Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 43/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 43/2023/DS-ST NGÀY 14/03/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 03 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 472/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1982 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp TV A, xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn H (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp TPT, xã THT, huyện PT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 09 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:

Ngày 06/6/2018, ông Huỳnh Tấn H có đến nhờ bà Nguyễn Thị Cẩm T hỏi vay 22 chỉ vàng 24k và 40.000.000 đồng, lãi suất do hai bên thỏa thuận, lãi suất theo thỏa thuận vàng 50.000 đồng/01 chỉ/01 tháng và tiền 40.000 đồng/01 triệu/01 tháng. Ông H đã đóng lãi từ tháng 07 đến tháng 09/2018 sau đó không đóng lãi nữa. Tháng 3/2020, bà T làm đơn khởi kiện tại Tòa án Phú Tân, tại phiên hòa giải ông H thống nhất trả tiền và vàng cho bà nên bà T rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án huyện Phú Tân ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Từ khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đến tháng 4/2022, ông Huỳnh Tấn H đã trả cho bà 03 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng thì ngưng không trả nữa. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh Tấn H trả cho bà 19 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn ông Huỳnh Tấn H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông Huỳnh Tấn H vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

- Việc bà Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện ông Huỳnh Tấn H yêu cầu trả tiền nợ vay. Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; ông H là bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Tấn H được Tòa án tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Tòa án xét xử vắng mặt ông Huỳnh Tấn H.

- Xét về quan hệ tranh chấp: Việc tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T với ông Huỳnh Tấn H là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự 2015. [2].Về nội dung:

[2.1]. Bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu ông Huỳnh Tấn H trả cho bà T 19 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho yêu cầu của mình, quá trình giải quyết vụ án, bà T có cung cấp cho Tòa giấy nhận nợ có chữ ký của ông Huỳnh Tấn H nội dung ông H có nợ bà T 22 chỉ vàng 24k và 40.000.000 đồng. Tại bản tự khai ngày 12 tháng 09 năm 2022 và tại phiên tòa, bà T thừa nhận thời gian qua ông H đã thanh toán cho bà T 03 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng, nay bà T yêu cầu ông H thanh toán cho bà 19 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng. Lời thừa nhận của bà T phù hợp với biên nhận nợ ngày 23 tháng 7 năm 2020 (âm lịch) có chữ ký ông Huỳnh Tấn H do bà T cung cấp có ghi thời gian cụ thể ông H trả vàng và tiền cho bà T. Do đó, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm T buộc ông Huỳnh Tấn H trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm T 19 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2]. Đối với ông Huỳnh Tấn H Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Huỳnh Tấn H không có ý kiến gì về việc yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm T và không cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm T nên ông H tự chịu hậu quả về việc không cung cấp tài liệu chứng cứ đó.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bà Nguyễn Thị Cẩm T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Huỳnh Tấn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

(Giá vàng 24k ngày 14/3/2022 là 5.270.000 đồng/ 01 chỉ).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết  326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T. Buộc ông Huỳnh Tấn H trả cho bà Nguyễn Thị Cẩm T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và 19 (Mười chín) chỉ vàng 24k.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.006.500 đồng.

Bà Nguyễn Thị Cẩm T không phải chịu án phí, bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 2.875.000 đồng (Hai triệu tám tram bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0018239 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, bà Nguyễn Thị Cẩm T được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Huỳnh Tấn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.006.500 đồng (Sáu triệu không trăm không sáu nghìn năm trăm đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 43/2023/DS-ST

Số hiệu:43/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về