Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 52/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 52/2024/DS-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý  số 32/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử  số 107/2024/QĐST - DS ngày 25/9/2024 và Quyết định hoãn phiên toàn số 115/2024/QĐST-DS ngày 05/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1 (V2); địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông: Đỗ Hoàng L - Chức danh: Giám đốc trung tâm Thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý (Theo Văn bản ủy quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023 và 38a/2024/UQNCTQT ngày 01/6/2024 của ông Ngô Chí D) Người đại diện theo ủy quyền của ông L:

1. Ông Lê Tuấn Đ (CCCD số 02509800xxxx), chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; (Có mặt)

2. Ông Hà Xuân S (CCCD 03139xxxx), chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ; (Vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Chiến V (CMND  số 13217xxxx), chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (Vắng mặt) Theo Văn bản ủy quyền số 47985/2024/UQ-VPB ngày 02/6/2024 của Ngân hàng V1 giữa ông Đỗ Hoàng L với các ông Lê Tuấn Đ, Hà Xuân S, Nguyễn Chiến V.

Bị đơn: Ông Phạm Quyết T, sinh năm 1983 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1989; Đều có địa chỉ: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Ngân hàng trình bày:

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và các biên bản làm việc tại Tòa án đại diện theo ủy quyền của V2 trình bày như:

Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H vay của V2 tổng số tiền nợ gốc ban đầu là 898.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám trăm chín mươi tám triệu đồng), theo 05 Hợp đồng tín dụng, cụ thể :

* Hợp đồng cho vay số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 và Khế ước nhận nợ số LN1705250062453 ngày 01/06/2017, mã hợp đồng LD1715201077 tại V2 với: Số tiền vay : 553.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi ba triệu đồng); Thời hạn vay : 83 tháng (từ ngày 01/06/2017 đến 01/05/2024); mục đích sử dụng vốn vay: Vay mua 01 xe ô tô mới 100% nhãn hiệu Orlando LT; hình thức giải ngân: Chuyển khoản tiền vay vào số tài khoản: 115744787, chủ tài khoản PHAM QUYET THANG mở tại V2; ngày giải ngân 01/06/2017, số bút toán: FT17152CTNCO (Ông T đã ủy nhiệm chi để V2 chuyển khoản vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty cổ phần T2, địa chỉ H, thành phố Hà Nội, số tài khoản 11400012xxxx tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh T3); lãi suất: Theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký, cụ thể: lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm giải ngân là 11,4%/năm. Lãi suất cho vay được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/06/2018, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/07/2018.

* Hợp đồng cho vay dưới hình thức Giấy đăng ký vay kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số TIENCEAT/VN0010238/2017/1/24 ngày 17/01/2017; mã hợp đồng LD1702302290; số tiền vay: 200.000.000 đồng; thời hạn vay/thời hạn hạn mức thấu chi: 60 tháng; mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; lãi suất: 38%/Năm; Loại hình cho vay: Tin chấp; hình thức giải ngân: Giải ngân vào số tài khoản 115744787, chủ tài khoản PHAM QUYET THANG mở tại V2, nhận nợ từ thời điểm V2 giải ngân tiền vay vào tài khoản thanh toán của khách hàng (Ngày giải ngân 23/01/2017, số bút toán: FT17023051179856);

* Hợp đồng cho vay dưới hình thức Giấy đăng ký vay kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số LN001023820181025 ngày 15/10/2018; mã hợp đồng LD1828900277 với số tiền cho vay/hạn mức thấu chi: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng); thời hạn vay: 36 tháng; mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; lãi suất: 20%/Năm; hình thức giải ngân: Giải ngân vào tài khoản 115744787, chủ tài khoản PHAM QUYET THANG mở tại V2, nhận nợ từ thời điểm V2 giải ngân tiền vay vào số tài khoản thanh toán của khách hàng (Ngày giải ngân 16/10/2018, số bút toán: FT18289539362409);

* Hợp đồng cho vay dưới hình thức Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng Đ1 ngày 02/06/2017; mã hợp đồng LD1715400405 với: Số tiền vay/hạn mức thấu chi: 69.000.000 đồng; mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn vay: 48 tháng; lãi suất vay: 20% năm; Hình thức giải ngân: Giải ngân vào số tài khoản 115744787, chủ tài khoản PHAM QUYET THANG mở tại V2, nhận nợ từ thời điểm V2 giải ngân tiền vay vào tài khoản thanh toán của khách hàng (Ngày giải ngân 03/06/2017, số bút toán: FT171544050698919);

Tất cả các hợp đồng trên đều thỏa thuận về lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và lãi suất chậm trả. Cách tính lãi như sau:

- Cách tính số tiền lãi trong hạn: Số tiền lãi trong hạn = (Số ngày tính lãi x Dư nợ gốc x Lãi suất trong hạn) / 365 - Cách tính số tiền lãi quá hạn: Số tiền lãi quá hạn = (Số ngày tính lãi x Dư nợ gốc x Lãi suất quá hạn) / 365 (Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn) Cách tính số tiền lãi chậm trả phát sinh đối với số tiền lãi trong hạn và quá hạn chậm trả: Số tiền lãi chậm trả phát sinh = (Số ngày tính lãi x Số tiền lãi trong hạn và quá hạn chậm trả x 10%)/365 (Lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn)

* Hợp đồng tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử số TIENCAT/VN0010238/2017/1/11 ngày 7/1/2017 với hạn mức 65.000.000 đồng. (238-P-160792); Loại thẻ: Stepup Titanium MasterCard; Số tiền vay/Hạn mức: 50.000.000 đồng; Thời hạn vay: Đối với thẻ tín dụng không quy định thời hạn + Tên truy cập: [email protected] + Mã bảo mật/mã kích hoạt: 1234 Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T, theo Hợp đồng thế chấp số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 giữa Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H với V2 do Văn phòng C2 tỉnh Phú Thọ chứng nhận và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ông Phạm Quyết T đã trả được cho ngân hàng là:

Hợp đồng LD1702302290 gốc đã trả là 38.570.158 đồng, lãi đã trả là 106.205.862 đồng (chuyển nợ quá hạn từ ngày 23/3/2019) Hợp đồng LD1715201077 gốc đã trả là 98.430.718 đồng, lãi đã trả là 112.409.043 đồng (chuyển nợ quá hạn từ ngày 01/4/2019) Hợp đồng LD1715400405 gốc đã trả là 22.334.090 đồng, lãi đã trả là 19.700.802 đồng (chuyển nợ quá hạn từ ngày 03/3/2019) Hợp đồng LD1828900277 gốc đã trả là 917.195 đồng, lãi đã trả là 754.227 đồng (chuyển nợ quá hạn từ ngày 16/3/2019) Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với V2, nên toàn bộ dư nợ còn lại của khoản nợ trong các Hợp đồng tín dụng trên bị chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thoả thuận.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn và nợ quá hạn (gốc và lãi) của khoản vay nêu trên. Tuy nhiên tính đến nay, Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V2, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với V2, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản đảm bảo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V2 gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi khoản nợ của V2. Nay ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông T và bà H phải thanh toán cho V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan tạm tính đến ngày 13/11/2023 là 2.209.521.488 đồng và lãi như thỏa thuận cho đến khi ông T và bà H thanh toán hết số tiền trên. Trường hợp không trả được số tiền trên đề nghị phát mại tài sản là Xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet orlando, BKS 19A-156.xx; số khung 7551HH945581; số máy 8D4170530103; chứng nhận xe ô tô số 021666 cấp ngày 10/05/2017 đứng tên ông Phạm Quyết T; theo hợp đồng thế chấp số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 Bị đơn ông T và bà H vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án. Tòa án không lấy được quan điểm của ông T. Tại biên bản làm việc ngày 28/8/2024 bà H trình bày là bà không khai, bà không có vay Ngân hàng, mọi việc vay nợ là vay nợ riêng của ông T với ngân hàng, bà không liên quan các khoản vay này.

Tại phiên tòa, Đại diện Ngân hàng đề nghị:

Ông T, bà H phải trả nợ số tiền vay của hợp đồng số LD1715201077 ký ngày 31/5/2017 là: tiền gốc: 454.569.282 đồng, tiền lãi phải trả (lãi trong hạn và lãi quá hạn): 488.226.932 đồng. Trường hợp không trả được số tiền trên đề nghị phát mại tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet orlando, BKS 19A-156.xx; số khung 7551HH945581; số máy 8D4170530103; chứng nhận xe ô tô số 021666 cấp ngày 10/05/2017 đứng tên ông Phạm Quyết T; theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 Ông T phải trả nợ số tiền vay của các hợp đồng: Hợp đồng số LD1828900277 ngày 15/10/2018 với số tiền gốc: 10.082.805 đồng, số tiền lãi (lãi trong hạn và lãi quá hạn): 15.480.921 đồng; Hợp đồng số LD1715400405 ngày 02/6/2017 với số tiền gốc: 46.665.910 đồng, số tiền lãi (lãi trong hạn và lãi quá hạn): 77.481.220 đồng; Hợp đồng số LD1702302290 ngày 17/01/2017 với số tiền gốc: 161.429.842 đồng, số tiền lãi (lãi trong hạn và lãi quá hạn): 498.852.343 đồng Đề nghị xin rút yêu cầu khởi kiện đề nghị ông T và bà H phải trả tiền vay theo Hợp đồng tín dụng dưới hình thức giấy đề nghị phát hành thẻ và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 07/01/2017 với tổng số tiền là: 469.728.644 đồng.

Bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi HDXX nghị án cơ bản đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt theo giấy báo để làm việc và tham gia phiên toà.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin thay đổi yêu cầu khởi kiện và rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp quy định tại Điều 244 BLTTDS nên cần chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện và đình chỉ xét xử phần nguyên đơn xin rút. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Phạm Quyết T, bà Đặng Thị H phải trả cho ngân hàng số tiền nợ gốc 454.569.282 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 và số tiền lãi theo quy định. Trường hợp ông T, bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô BKS19A-156.xx. Ngoài số tiền nợ chung trên ông T còn có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền nợ riêng là 218.178.557 đồng và số tiền lãi theo quy định. Về chi phí tố tụng, án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Trong đơn khởi kiện, V2 yêu cầu Tòa án buộc ông T và bà H phải trả cho ngân hàng số tiền vay nợ còn chưa trả theo 05 hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng. Đây xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn đều có địa chỉ tại khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông T phải trả số tiền vay gốc và lãi phát sinh mà ông T tự mình đứng ra ký vay nợ trong Hợp đồng tín dụng với ngân hàng và yêu cầu ông T, bà H phải trả số tiền vay gốc và lãi phát sinh mà ông T cùng bà H ký trong Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Số tiền ông T phải trả này tính đến ngày 30/9/2024 809.535.247 đồng (trong đó: gốc phải trả: 218.178.557 đồng, lãi phải trả 591.356.690 đồng. Cụ thể: Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 17/01/2017 là: 660.282.276 đồng (trong đó: tiền gốc phải trả: 161.429.842 đồng, lãi phải trả: 498.852.434 đồng); Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 02/6/2017 là: 123.689.245 (trong đó: tiền gốc phải trả: 46.665.910 đồng, lãi phải trả: 77.023.335 đồng); Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 15/10/2018 là: 25.563.771 đồng (trong đó: tiền gốc phải trả: 10.082.850 đồng, lãi phải trả: 15.480.921 đồng). Số tiền bà H và ông T phải trả nợ cho V2 là 942.796.214 đồng, trong đó tiền gốc là: 454.569.282 đồng, tiền lãi là: 488.226.932 đồng. Việc yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện này là tự nguyện và vẫn nằm trong phạm vi khởi kiện nên cần chấp nhận. Đồng thời tại phiên tòa Ngân hàng tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông T và bà H phải trả tiền vay nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Khoản thẻ tín dụng theo giấy đề nghị phát hành thẻ và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 07/01/2017.

Về thời hiệu khởi kiện vụ án: Ngân hàng xác định ông T không thực hiện các nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết, không trả lãi, gốc đúng thỏa thuận. Các bên đã thỏa thuận ông T, bà H vi phạm bất kỳ kỳ hạn trả nợ gốc và lãi hàng tháng theo thỏa thuận thì ngân hàng sẽ có quyền khởi kiện vụ án. Ngân hàng cung cấp các Hợp đồng tín dụng ký kết giữa ngân hàng với bà H, ông T. Năm 2020 Ngân hàng đã khởi kiện vụ án đến tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, Tòa án đã thụ lý giải quyết và đình chỉ vụ án, do Ngân hàng rút đơn khởi kiện. Đồng thời không ai áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 149 BLDS là phù hợp.

Về việc giám định chữ ký của ông T và bà H trong 05 Hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng đang khởi kiện đề nghị ông T và bà H phải trả tiền vay nợ cho Ngân hàng: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các giấy báo, thông báo cho ông T, bà H thời gian, địa điểm đến Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì để làm việc. Nhưng bà H không đến làm việc tại Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai của ông T và bà H về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dù đã được Tòa án giải thích về việc cần phải giám định chữ ký của bà H và ông T trong các Hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng đang khởi kiện để đòi tiền để xác định có đúng là chữ ký, chữ viết của bà H, ông T không mới giải quyết được vụ án nhưng không đề nghị Tòa án đi giám định chữ ký của ông T và bà H. Vì vậy, xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định giám định chữ ký và chữ viết của ông T và bà H trong các hợp đồng tín dụng này.

Đối với sự vắng mặt của ông T, bà H tại phiên tòa: Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông T, bà H. Tại phiên tòa xét xử ngày 20/9/2024 ông T, bà H vắng mặt không lý do chính đáng nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay ông T, bà H vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do nên tòa án vẫn xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 BLTTDS.

[2] Về nội dung:

2.1. Về hiệu lực của các hợp đồng tín dụng:

* Hợp đồng cho vay số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 và Khế ước nhận nợ số LN1705250062453 ngày 01/06/2017:

Ngân hàng khai: Ngân hàng và ông T, bà H đều tự nguyện ký (ký giáp lai từng trang và ký ghi rõ họ tên vào phần bên vay), tự nguyện thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng tín dụng này. Ngân hàng đã xuất trình hợp đồng tín dụng này kèm theo đề nghị giải ngân và khế ước nhận nợ ngày 01/6/2017 cho Tòa án. Ông T và bà H vắng mặt nên không lấy được lời khai của ông bà về hợp đồng này.

Nội dung của hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ thể hiện thời hạn vay là 83 tháng, số tiền vay là 553.000.000 đồng; mục đích vay: để mua xe ô tô mới 100% nhãn hiệu Orlando LT; lãi suất vay là 11,4%/năm, lãi suất này sẽ được điều chỉnh sau 12 tháng kể ngày ký và điều chỉnh 03 tháng một lần và Ngân hàng tự điều chỉnh lãi suất vay mà không phải thông báo cho bên vay;

Do ông T, bà H không có lời khai nên Tòa án đã đi giám định toàn bộ chữ ký của ông T và bà H trong các văn bản này. Kết quả giám định xác định toàn bộ chữ ký của ông T, bà H trong các văn bản trên phù hợp với chữ ký của ông T, bà H trong văn bản thế chấp xe ô tô đã được công chứng tại Phòng C3 tỉnh Phú Thọ. Kết quả giám định này không đương sự nào có ý kiến gì.

Như vậy, cần xác định ông T, bà H và Ngân hàng đã thỏa thuận các nội dung như trong Hợp đồng tín dụng và các văn bản trên. Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký.

* Hợp đồng cho vay dưới hình thức giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018:

Ngân hàng khai: Ông T tự nguyện ký (ký giáp lai từng trang và ký ghi rõ họ tên vào phần bên vay) và tự nguyện thỏa thuận các nội dung Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018. Ngân hàng đã giao nộp cho Tòa án Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018; Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử, Biên bản xác nhận nhu cầu vay vốn cho Tòa án. Trong các văn bản này đều thể hiện Ngân hàng và ông T có thỏa thuận về lãi suất vay trong thời hạn và cơ chế điều chỉnh lãi suất thực hiện theo phê duyệt cho vay của V2, lãi quá hạn và nội dung khác sẽ được thể hiện trong xác nhận chấp thuận vay của V2 và Bộ Đ2 và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử. Ông T vắng mặt nên không lấy được lời khai của ông về các hợp đồng này.

Tòa án đã giám định toàn bộ chữ ký của ông T trong các văn bản này. Kết quả giám định xác định toàn bộ chữ ký của ông T trong các văn bản trên phù hợp với chữ ký của ông T trong văn bản thế chấp xe ô tô đã được công chứng tại Phòng C3 tỉnh Phú Thọ. Kết quả giám định này đã tống đạt cho các đương sự và không đương sự nào có ý kiến gì. Do vậy, cần xác định ông T có ký và thỏa thuận nội dung trong Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018, Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử.

Vì vậy, các hợp đồng tín dụng dưới hình thức Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018 ký kết giữa ông T và Ngân hàng, Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử mà ông T ký có hiệu lực pháp luật.

* Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1705250062453 ký kết giữa Ngân hàng với ông T, bà H ngày 31/5/2017 (Hợp đồng này đã được công chứng tại Phòng công chứng số I tỉnh P, địa chỉ: đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ): Ông T, bà H đã ký kết vào hợp đồng này, hợp đồng này đã được công chứng, không có đương sự nào ý kiến gì về hợp đồng công chứng này. Vì vậy Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 31/5/2017.

2.2. Về yêu cầu của Ngân hàng buộc ông T, bà H phải trả nợ gồm số tiền vay nợ gốc còn lại và tiền lãi (lãi trong hạn và lãi quá hạn) chưa trả:

* Đối với Hợp đồng tín dụng số LN1705250062453 ngày 31/05/2017:

Hợp đồng có ghi số tiền vay là 553.000.000 đồng, lãi suất là 11.4%/năm và lãi suất điều chỉnh sau 12 tháng và 03 tháng điều chỉnh một lần. Các bên thỏa thuận Lãi suất điều chỉnh Ngân hàng tự điều chỉnh và không phải thông báo cho ông T, bà H. Ngoài ra các bên thỏa thuận lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi suất chậm trả lãi..., mục đích vay là để mua ô tô. Ông T và bà H thỏa thuận số tiền vay được chuyển vào số tài khoản 114000125606 của ông T mở tại V2. Ngân hàng cung cấp sao kê việc chuyển số tiền vay vào tài khoản của ông T. Vì vậy, có căn cứ xác định ông T và bà H có vay của Ngân hàng số tiền 553.000.000 đồng, lãi suất vay trong hạn, lãi suất vay quá hạn, lãi suất điều chỉnh như lời khai của ngân hàng là đúng và cần chấp nhận.

Ngân hàng cũng xác nhận từ khi vay đến ngày 01/6/2019 ông T đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc đến ngày là 98.430.718 đồng và lãi đã trả 112.409.043 đồng (Ngân hàng cung cấp các sao kê tài khoản để chứng minh việc trả gốc và lãi này). Từ ngày 01/4/2019 ông T, bà H bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi cho ngân hàng, sau đó trả cho ngân hàng một phần tiền gốc, lãi nhưng không đầy đủ, sau ngày 01/6/2019 đến nay ông bà không trả cho ngân hàng đồng tiền gốc và lãi nào nữa. Vì vậy, theo thỏa thuận, ông T, bà H phải trả toàn bộ số tiền gốc còn lại từ thời điểm 01/4/2019. Do ông T, bà H không trả được nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 01/4/2019 là phù hợp với Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2020. Số tiền còn lại phải trả tính đến ngày 30/9/2024 là: tiền gốc 454.569.282 đồng, tiền lãi 488.226.932 đồng, trong đó lãi trong hạn: 2.807.599 đồng, lãi quá hạn là 485.419.333 đồng (có bản tính gốc, lãi chi tiết tính đến ngày 30/9/2024). Ông T, bà H vắng mặt, không có tài liệu, chứng minh việc trả gốc và trả lãi của mình. Vì vậy xác nhận lời khai của ngân hàng là đúng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông T và bà H phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tổng số tiền lãi chưa trả như trên là có căn cứ và cần chấp nhận. Cụ thể: xác định đến ngày 30/9/2024 ông T và bà H còn nợ ngân hàng là tiền gốc 454.569.282 đồng, tiền lãi 488.226.932 đồng, trong đó lãi trong hạn: 2.807.599 đồng, lãi quá hạn là 485.419.333 đồng.

* Đối với các Hợp đồng cho vay dưới hình thức giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018:

Do chỉ mình ông T ký vào các hợp đồng này. Biên bản làm việc, bà H không thưa nhận việc vay nợ này, bà xác định đây là việc vay riêng của ông T không liên quan đến bà. Cụ thể:

- Hợp đồng tín dụng ngày 17/01/2017 và Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử: có ghi số tiền vay 200.000.000 đồng, lãi suất vay là 38%, có điều chỉnh và được ghi nhận trong xác nhận chấp thuận cho vay, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn… và biên bản xác nhận nhu cầu vốn vay là kinh doanh. Tại giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh chỉ thể hiện mình ông T là chủ hộ kinh doanh, không liên quan đến bà H và Ngân hàng cũng thưa nhận việc này. Ngân hàng cũng thưa nhận mục đích ghi kinh doanh nhưng ông T không sử dụng tiền vay vào mục đích kinh doanh của H1 kinh doanh cá thể đứng tên ông T mà sử dụng trả nợ và các nhu cầu khác. Ông T sử dụng vào mục đích cụ thể gì thì Ngân hàng không biết và không yêu cầu Tòa án đi xác mình, thu thập tài liệu, chứng cứ. Ngân hàng cũng chỉ yêu cầu ông T phải trả số tiền này và xác nhận Ngân hàng có điều chính lãi suất vay trong hạn của Hợp đồng này nhưng cao nhất là 35,7% (như thỏa thuận là 38%) nên cần chấp nhận. Từ khi vay đến ngày 22/3/2019 ông T đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc là 38.570.158 đồng và lãi đã trả 106.205.862 đồng (Ngân hàng cung cấp các sao kẽ tài khoản để chứng minh việc trả gốc và lãi này). Từ ngày 22/3/2019 ông T bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi, sau đó có trả cho ngân hàng một phần tiền gốc và lãi nhưng không đầy đủ theo nghĩa vụ, sau ngày 22/3/2019 đến nay ông T không trả cho ngân hàng đồng tiền gốc và lãi nào nữa. Vì vậy, theo thỏa thuận, ông T phải trả toàn bộ số tiền gốc còn lại này. Do ông T không trả được nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 23/3/2019 là phù hợp với Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2020. Số tiền còn lại phải trả tính đến ngày 30/9/2024 là: tiền gốc 161.429.842 đồng, tổng tiền lãi phải trả 498.852.434 đồng, trong đó lãi trong hạn: 33.234.261 đồng, lãi quá hạn là 465.618.173 đồng (có bản tính gốc, lãi chi tiết tính đến ngày 30/9/2024). Ông T vắng mặt, không có tài liệu, chứng minh việc trả gốc và trả lãi của mình. Vì vậy xác nhận lời khai của ngân hàng là đúng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông T phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tổng số tiền lãi chưa trả như trên là có căn cứ và cần chấp nhận nhận. Cụ thể: xác định đến ngày 30/9/2024 ông T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là: 161.429.842 đồng, tổng số tiền lãi là 498.852.434 đồng, trong đó lãi trong hạn: 33.234.261 đồng, lãi quá hạn là 465.618.173 đồng.

Hợp đồng tín dụng ngày 02/6/2017 và Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thế ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử: có ghi số tiền vay là 69.000.000 đồng, lãi suất cho vay là: 20%/ năm; mục đích vay là mua đồ dùng gia đình. Ông T sử dụng vào mục đích như thế nào thì Ngân hàng không biết và không yêu cầu Tòa án đi xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ. Bà H xác định đây là vay nợ riêng của ông T không liên quan đến gia đình. Ngân hàng xác định ông T vay cá nhân và yêu cầu ông T phải trả số tiền này nên cần chấp nhận. Ngân hàng đã chuyển khoản tiền vay này vào số tài khoản 11574xxxx của ông T mở tại V2. Từ khi vay đến ngày 02/3/2019 ông T đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc là 22.334.090 đồng và lãi đã trả 19.700.802 đồng (Ngân hàng cung cấp các sao kẻ tài khoản để chứng minh việc trả gốc và lãi này). Từ ngày 03/3/2019 đến nay ông T không trả cho ngân hàng đồng tiền gốc và lãi nào nữa. Vì vậy, theo thỏa thuận, ông T phải trả toàn bộ số tiền gốc còn lại này. Do ông T không trả được nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 03/3/2019 là phù hợp với Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2020. Tại phiên tòa Ngân hàng đề nghị chỉ tính lãi suất vay trong hạn cao nhất của số tiền này là 20% nên số tiền ông T còn lại phải trả tính đến ngày 30/9/2024 là: tiền gốc 46.665.910 đồng, tổng tiền lãi phải trả 77.023.335 đồng, trong đó lãi trong hạn: 391.647 đồng, lãi quá hạn là 76.631.688 đồng (có bản tính gốc, lãi chi tiết tính đến ngày 30/9/2024). Ông T vắng mặt, không có tài liệu, chứng minh việc trả gốc và trả lãi của mình. Vì vậy xác nhận lời khai của ngân hàng là đúng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông T phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tổng số tiền lãi chưa trả như trên là có căn cứ và cần chấp nhận nhận, xác định đến ngày 30/9/2024 ông T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là: 46.665.910 đồng, tổng tiền lãi phải trả 77.023.335 đồng, trong đó lãi trong hạn: 391.647 đồng, lãi quá hạn là 76.631.688 đồng.

Hợp đồng ngày 15/10/2018 và phương án sử dụng vốn ngày 10/10/2018 xác định: số tiền vay: 11.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất cho vay: 20%/năm, lãi suất này điều chỉnh sau 12 tháng, 03 tháng điều chỉnh 1 lần, lãi suất mới áp dụng từ thời điểm điều chỉnh; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; mục đích vay vốn là phục vụ đời sống (mua sắm tiêu dùng)... Ngân hàng không có tài liệu, chứng minh ông T sử dụng vốn vay vào mục đích cho gia đình. Sau khi cho vay vốn ngân hàng cũng không kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của ông T có đúng mục đích như thỏa thuận với ngân hàng không. Ngoài ra, những sao kê ngân hàng cung cấp về việc sử dụng vốn vay của ông T không thể hiện ông T mua sắm gì cho gia đình, chỉ thể hiện ông T chuyển khoản trả nợ và không thể hiện rõ ông thắng chuyển khoản trả nợ cho ai, địa chỉ ở đâu. Ngân hàng cũng không yêu cầu tòa án đi xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ về việc chuyển khoản này. Bà H không thừa nhận việc vay nợ này, xác định ông T vay sử dụng vào mục đích cho bản thân ông T. Do vậy, chỉ xác định đây là vay nợ riêng của ông T đối với ngân hàng. Ngân hàng chỉ yêu cầu ông T phải trả số tiền vay này là phù hợp. Ngân hàng đã chuyển khoản tiền vay này vào số tài khoản 115744787 của ông T mở tại V2. Do xác định các Hợp đồng này có hiệu lực pháp lực nên cần chấp nhận các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng này. Ngân hàng xác nhận từ ngày vay đến ngày 15/3/2019 ông T đã trả được cho ngân hàng số tiền gốc là 917.195 đồng và lãi đã trả 754.227 đồng (Ngân hàng cung cấp các sao kê tài khoản để chứng minh việc trả gốc và lãi này). Từ ngày 16/3/2019 ông T bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả lãi, gốc, đến ngày 15/3/2019 thì ông T không trả cho ngân hàng số tiền nào nữa. Vì vậy, theo thỏa thuận, ông T phải trả toàn bộ số tiền gốc còn lại này. Do ông T không trả được nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 16/3/2019 là phù hợp với Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2020. Số tiền còn lại phải trả tính đến ngày 30/9/2024 là: tiền gốc 10.082.805 đồng, tổng tiền lãi phải trả 15.480.921 đồng, trong đó lãi trong hạn: 131.259 đồng, lãi quá hạn là 15.349.662 đồng (có bản tính gốc, lãi chi tiết tính đến ngày 30/9/2024). Ông T vắng mặt, không có tài liệu, chứng minh việc trả gốc và trả lãi của mình. Vì vậy xác nhận lời khai của ngân hàng là đúng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông T phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tổng số tiền lãi chưa trả như trên là có căn cứ và cần chấp nhận nhận. Cụ thể: xác định đến ngày 30/9/2024 ông T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là: 10.082.805 đồng, tổng tiền lãi phải trả 15.480.921 đồng, trong đó lãi trong hạn: 131.259 đồng, lãi quá hạn là 15.349.662 đồng 2.3. Đối với việc ông T, bà H thế chấp: Xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T, theo Hợp đồng thế chấp số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 giữa Ông Phạm Quyết T và bà Đặng Thị H với V2 do Văn phòng C2 tỉnh Phú Thọ chứng nhận và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật: Hợp đồng này đã được công chứng tại Văn phòng công chứng số A tỉnh Phú Thọ và không ai có đề nghị gì đối với hợp đồng công chứng này nên Hợp đồng này có hiệu lực lực pháp luật kể từ ngày 31/5/2017. Nội dung hợp đồng thể hiện tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ - bao gồm nghĩa vụ trả gốc và lãi phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng ký kết giữa bà H, ông T với Ngân hàng. Như vậy chiếc xe ô tô này để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng số LN1705250062453 ngày 31/05/2017, mã hợp đồng LD1715201077 ký kết giữa Ngân hàng với ông T, bà H. Vì vậy, đối với yêu cầu Ngân hàng được phát mãi chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T để đảm bảo khoản vay nợ của ông T và bà H với Ngân hàng là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T, bà H phải trả nợ số tiền gốc và lãi đối với Hợp đồng tín dụng dưới hình thức Khoản thẻ tín dụng theo giấy đề nghị phát hành thẻ và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 07/01/2017 ký kết giữa Ngân hàng với ông T: Ngân hàng tự nguyện rút yêu cầu này nên cần chấp nhận và đình chỉ giải quyết yêu cầu này.

Về án phí và chi phí tố tụng: Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 9.300.000 đồng. Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên ông T và bà H phải chịu toàn bộ chi phí này. Xác nhận Ngân hàng đã nộp đủ chi phí này nên ông T và bà H phải thanh toán lại toàn bộ chi phí này cho Ngân hàng.

Về chi phí giám định: Đối với chi phí giám định Hợp đồng tín dụng ngày 31/5/2017, khế ước nhận nợ ngày 01/6/2017 là 3.300.000 đồng. Do kết luận giám định xác định chữ ký của ông T và bà H trong Hợp đồng và khế ước này là đúng của ông T và bà H phải chịu chi phí giám định này.

Đối với chi phí giám định các mẫu chữ ký của ông T trong 04 hợp đồng tín dụng còn lại, cam kết nhận nợ, đơn đề nghị vay vốn…là 6.600.000 đồng. Do kết luận giám định xác định chữ ký của ông T trong các văn bản này là đúng của ông T nên ông T phải chịu toàn bộ chi phí giám định này.

Về án phí: Do Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên buộc bà H và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể:

Bà H và ông T phải chịu án phí có giá ngạch đối với tổng số tiền là 942.796.214 đồng. Buộc bà H và ông T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 40.283.886 đồng.

Ông T phải chịu án phí có giá ngạch đối với tổng số tiền là: 809.535.247 đồng. Buộc ông T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 36.286.057 đồng.

Đối với yêu cầu ông T rút khởi kiện và Tòa án đình chỉ giải quyết thì Ngân hàng được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp đối với yêu cầu này. Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại nên Ngân hàng không phải chịu án phí theo quy định đối với những yêu cầu này. Vì vậy, hoàn trả lại cho V2 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Căn cứ các Điều 298, 299, 301, 317, 319, 323, 357, 463, 466, 468, Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 161, Điều 184, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 7, Điều 8, Điều 10 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2020 của Ngân hàng N. Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1.

Buộc bà H và ông T phải trả nợ cho V2 tổng số tiền vay nợ gốc và lãi còn lại theo hợp đồng tín dụng số LN1705250062453 ngày 31/05/2017 và Khế ước nhận nợ số LN1705250062453 ngày 01/06/2017, là 942.796.214 đồng, trong đó tiền gốc là: 454.569.282 đồng, tiền lãi là: 488.226.932 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando; BKS: 194-156.xx; Số khung: 7551HH945581; Số máy 8D4170530103. Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021666 do Phòng C1 Công an tỉnh P cấp ngày 10/05/2017, đứng tên ông Phạm Quyết T để đảm bảo việc thu hồi khoản nợ trên.

Buộc ông T phải trả nợ cho V2 tổng số tiền vay nợ gốc và lãi còn lại theo các Hợp đồng tín dụng dưới hình thức giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số các ngày 17/01/2017, 02/6/2017, 15/10/2018 là 809.535.247 đồng (trong đó: gốc phải trả: 218.178.557 đồng, lãi phải trả 591.356.690 đồng. Cụ thể: Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 17/01/2017 là: 660.282.276 đồng (trong đó: tiền gốc phải trả: 161.429.842 đồng, lãi phải trả: 498.852.434 đồng); Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 02/6/2017 là: 123.689.245 (trong đó: tiền gốc phải trả: 46.665.910 đồng, lãi phải trả: 77.023.335 đồng); Hợp đồng tín dụng ký kết ngày 15/10/2018 là: 25.563.771 đồng (trong đó: tiền gốc phải trả: 10.082.850 đồng, lãi phải trả: 15.480.921 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện buộc ông T phải trả số tiền vay nợ theo hợp đồng tín dụng dưới hình thức giấy đề nghị phát hành thẻ và đăng ký sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 07/01/2017 với tổng số tiền là: 469.728.644 đồng.

Về án phí và về chi phí tố tụng: Về chi phí tố tụng:

+ Buộc bà H và ông T phải trả cho Ngân hàng tiền chi phí giám định là 3.300.000 đồng + Buộc ông T phải trả cho Ngân hàng chi phí giám định là 6.600.000 đồng + Buộc bà H và ông T phải chịu trả cho Ngân hàng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 9.300.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

+ Về án phí: Buộc bà H và ông T phải chịu 40.283.886 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Buộc ông T phải chịu 36.286.057 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho V2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 38.095.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005591 ngày 04/2/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

116
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 52/2024/DS-ST

Số hiệu:52/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về