Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 49/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 49/2023/DS-ST NGÀY 17/05/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/ 2023/TLST- DS ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng S Trụ sở: Lầu …, số …, đường N, phường V, Quận …, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà N.Đ.T.D - Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Một thành viên Q. Trụ sở: Số …, đường N, phường V, Quận …, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông L.N.T - Tổng Giám đốc, theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông N.T.H - Nhân viên, theo Giấy ủy quyền số 230/2023/GUQ-PL ngày 07/02/2023. Địa chỉ làm việc: Tầng …, số …, phố B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. - Có mặt ông Hải.

Bị đơn: Anh L.H.T, sinh năm 1971. - Vắng mặt.

Nơi thường trú: Số …, phố L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú cuối cùng: Số …, phố L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 22/02/2021, Bản tự khai ngày 23/4/2023, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là Ngân hàng S trình bày:

Ngày 18/4/2016, anh L.H.T và Ngân hàng S ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Căn cứ thu nhập của anh T, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ Visa Credit Classic, số thẻ 472074-3867, với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng và đã được nâng hạn mức 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, anh T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.662.031.265 đồng và thanh toán được số tiền 1.610.159.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, nhưng anh T không có thiện chí trả nợ. Do anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 30/6/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc anh T phải trả ngay tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/3/2023 là 165.052.536 đồng, gồm nợ gốc là 71.924.544 đồng, lãi quá hạn là 93.127.992 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 23/3/2023 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn là anh L.H.T đã được tống đạt, niêm yết công khai hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập phiên tòa để anh T biết những vấn đề cụ thể mà Ngân hàng S yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời triệu tập anh T đến Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên, anh T không có mặt theo thông báo triệu tập của Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Do anh T không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, nên phải chịu hậu quả do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Ngân hàng S yêu cầu Tòa án buộc anh T thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày 17/5/2023 là 170.195.146 đồng, trong đó nợ gốc là 71.924.544 đồng, lãi quá hạn là 98.270.602 đồng và tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng cho đến ngày anh T thanh toán được toàn bộ khoản vay. Anh T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về nợ gốc, lần cuối cùng anh T giao dịch là ngày 29/02/2020, số tiền 120.500.000 đồng, cùng ngày anh T thanh toán số tiền 60.000.000 đồng. Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng là 60.000.000 đồng, nhưng cộng số tiền phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, lãi, phí thường niên để xác định số nợ gốc tính đến ngày 31/7/2020 là 71.924.544 đồng là không có căn cứ, xác định số nợ gốc của anh T là 59.843.142 đồng. Về lãi quá hạn, buộc anh T phải trả số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/4/2020 trên số nợ gốc là 59.843.142 đồng. Về án phí: Đề nghị Tòa án xác định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng S khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng đối với anh L.H.T, thường trú tại số .., phố L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, cư trú cuối cùng tại số …, phố L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

[2] Về việc xét xử trong trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, anh L.H.T là bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.

[3] Về nội dung và hiệu lực hợp đồng tín dụng: Ngày 18/4/2016, anh L.H.T ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, với hạn mức tín dụng mong muốn là 30.000.000 đồng. Cùng ngày 18/4/2016, Ngân hàng S - Chi nhánh Đ chấp thuận đề nghị và phê duyệt cấp thẻ tín dụng cho anh T hạn mức là 30.000.0000 đồng, sau đó nâng hạn mức lên 60.000.000 đồng Kèm theo hợp đồng là bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có hiệu lực từ ngày 21/9/2015, trong đó tại các Điều 1, 16, 18, 19, 20, 23 và 24 có quy định: “Dư nợ thẻ (gọi tắt là dư nợ) là tổng số nợ của tài khoản bao gồm tất cả số tiền giao dịch, phí và tiền lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ”; “Chủ thẻ phải theo dõi tổng dư nợ của mình để không vượt hạn mức được phê duyệt vào bất cứ thời điểm nào. Chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán đối với tất cả các giao dịch và tiền phí phát sinh do vượt quá hạn mức”; “Tất cả các giao dịch và phí phát sinh phải được chủ thẻ thanh toán cho đơn vị phát hành thẻ vào hoặc trước ngày đến hạn được ghi trên Thông báo”; “Chủ thẻ sẽ chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn như được nêu trong thông báo hàng tháng gửi cho chủ thẻ”; “việc thanh toán được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ”; “lãi suất theo thỏa thuận giữa đơn vị phát hành và chủ thẻ”; “…lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại… đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của đơn vị phát hành thẻ”; “Bên cạnh lãi suất, chủ thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến thẻ”. Theo Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011, lãi suất thẻ là 2,15%/tháng. Xét việc hai bên xác lập hợp đồng tín dụng có nội dung nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng được ban hành theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nên hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết.

[4] Về yêu cầu đòi nợ gốc: Hợp đồng tín dụng đã giao kết thuộc loại có kỳ hạn trả nợ là 01 tháng. Vào ngày 30 hàng tháng, Ngân hàng S gửi thông báo giao dịch thẻ cho anh L.H.T gồm các thông tin về dư nợ đầu kỳ, ngày giao dịch, số tiền giao dịch, nợ phát sinh trong kỳ, phí và lãi, khoản đã thanh toán, số tiền phải thanh toán tối thiểu, dư nợ cuối kỳ để anh T biết và thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước ngày 25 của tháng tiếp theo. Ngày 25/4/2016, Ngân hàng S cấp thẻ tín dụng cho anh T với hạn mức là 30.000.000 đồng. Theo Tóm tắt sao kê tài khoản của anh T, từ ngày 29/4/2016 đến ngày 30/6/2020, anh T đã thực hiện các giao dịch thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, với tổng số tiền là 1.662.031.265 đồng, phải chịu tiền lãi trong hạn là 13.694.999 đồng, phí trễ hạn là 3.041.895 đồng, phí vượt hạn mức là 870.385 đồng, phí khác là 2.445.000 đồng, tổng số tiền là 1.682.083.544 đồng, anh T chỉ trả được 1.610.159.000 đồng, dư nợ thẻ là 71.924.544 đồng. Nay Ngân hàng S yêu cầu anh T trả số nợ gốc là 71.924.544 đồng, anh T không có ý kiến phản đối. Xét yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với quy định tại khoản 1.9 Điều 1 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, căn cứ vào Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S, buộc anh T trả số nợ gốc tính đến ngày 17/5/2023 là 71.924.544 đồng.

[5] Về yêu cầu đòi tiền lãi quá hạn: Ngày cuối cùng anh L.H.T trả nợ là ngày 15/02/2020, số tiền 60.000.000 đồng. Căn cứ Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng có quyền chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 01/3/2020. Tuy nhiên, trong 04 kỳ hạn trả nợ tiếp theo, Ngân hàng chỉ tính lãi trong hạn, phí trễ hạn, phí vượt hạn mức, phí khác là tạo điều kiện cho anh T có thể trả được nợ và tiếp tục sử dụng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, anh T không trả được nợ, nên Ngân hàng chốt số dư nợ thẻ tính đến ngày 30/6/2020 là 71.924.544 đồng và chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh T. Nay Ngân hàng S yêu anh T trả số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/7/2020 đến ngày 17/5/2023, với lãi suất 2,6%/tháng theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 15/8/2019 là: 71.924.544 đồng x 2,6%/tháng x 150% x 1.051 ngày = 98.270.602 đồng (Làm tròn lãi suất theo ngày là 93.502 đồng/ngày). Anh T không có ý kiến phản đối. Xét yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với quy định tại Điều 23 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ vào Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S, buộc anh T phải trả số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 17/5/2023 là 98.270.602 đồng.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại 2.350.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp; anh T phải trả Ngân hàng S 170.195.146 đồng, nên phải chịu 8.509.757 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S về việc đòi anh L.H.T trả số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết ngày 18/4/2016. Buộc anh L.H.T trả Ngân hàng S các khoản tiền tính đến ngày 17/5/2023 gồm: Nợ gốc là 71.924.544 đồng, tiền lãi quá hạn là 98.270.602 đồng, tổng số tiền là 170.195.146 đồng (Một trăm bảy mươi triệu, một trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm bốn mươi sáu đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

3.1. Ngân hàng S được nhận lại số tiền 2.350.000 đồng (Hai triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0013248 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

3.2. Anh L.H.T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.509.757 đồng (Tám triệu, năm trăm không chín nghìn, bảy trăm năm mươi bảy đồng).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Ngân hàng S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh L.H.T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

79
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 49/2023/DS-ST

Số hiệu:49/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về