Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 36/2022/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 36/2022/DS-ST NGÀY 08/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 08/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 232/2021/TLST-DS, ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2022/QĐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Trụ sở: Quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Ngân Xuân T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.

Địa chỉ: Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T.

Địa chỉ: Thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Ông T vắng mặt, bà T có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Ngân Xuân T trình bày:

Ngân hàng TMCP V với ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T đã ký kết Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số LN1712120373149/CLN/HDTD ngày 15/12/2017:

Ngân hàng TMCP V có cho ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T vay số tiền 367.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng), thời hạn 83 tháng, mục đích vay mua xe ô tô con mới 100%, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 8.9%/năm, cố định sáu tháng đầu, sau đó lãi suất thay đổi định kỳ 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu: Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T đã vi phạm nghĩa vụ các kỳ trả nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 15/06/2019. Ngân hàng đã tạo điều kiện để ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T trả nợ nhưng đến nay không có kết quả, có biểu hiện trốn tránh kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ các khoản vay sang nợ quá hạn, gửi thông báo thu hồi toàn bộ khoản nợ và yêu cầu bàn giao tài sản cho VPBank để xử lý nhưng ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T vẫn không hợp tác trả nợ. Nay Ngân hàng VPBank đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T phải trả ngay một lần cho VPBank sau khi án có hiệu lực pháp luật số nợ tạm tính đến ngày 08/6/2022 là 424.219.367 đồng. Trong đó nợ gốc 252.781.229 đồng và nợ lãi 171.438.138 đồng. Ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 09/6/2022 cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên và lãi phát sinh thì VPBank có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu: Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T chưa trả hết nợ thì vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T trình bày:

Bà T và ông T là vợ chồng, tuy nhiên vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, hiện nay ông T ở đâu bà T không biết.

Ngày 15/12/2017, do có nhu cầu vay vốn nên vợ chồng bà T có ký hợp đồng tín dụng số LN1712120373149/CLN/HĐTD với Ngân hàng TMCP V. Vợ chồng bà T đã vay số tiền gốc 367.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng chẵn); lãi suất cho vay là 8.9%/năm; lãi suất vay được cố định trong thời gian 06 tháng, sau đó lãi suất thay đổi định kỳ 03tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; thời hạn vay 83 tháng; mục đích vay mua xe ô tô con mới 100%.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 15/12/2017, vợ chồng bà T có ký kết với Ngân hàng TMCP V hợp đồng thế chấp số LN1712120373149/CLN/HĐTCSP và đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố H ngày 15/12/2017, để thế chấp: Xe ôtô con nhãn hiệu CHEVROLE, số loại: Aveo, số khung: 69YDHH947369, số máy: 4D3171630008, biển số 47A-210.03 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Tỉnh Đắk Lắk cấp 13/12/2017.

Giá trị tài sản bảo đảm là: 459.000.000 đồng.

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V thì ý kiến của bà T: Bà T xác nhận là bà tự nguyện ký kết hợp đồng vay vốn, hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/12/2017 với Ngân hàng TMCP V. Bà T không có điều kiện trả nợ cho ngân hàng nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn ông Phạm Hữu T, để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Mặt khác, theo Quyết định số 01/2022/QĐST-VDS ngày 28/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã tuyên bố ông Phạm Hữu T mất tích. Vì vậy, Tòa án không thu thập được bản tự khai cũng như không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham dự phiên tòa phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phạm Hữu T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt tại buổi làm việc lập bản tự khai cũng như vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 317, Điều 318, Điều 323, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T phải trả cho VPBank số nợ tạm tính đến ngày 08/6/2022 là 424.219.367 đồng. Trong đó nợ gốc 252.781.229 đồng và nợ lãi 171.438.138 đồng. Ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 09/6/2022 cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên và lãi phát sinh thì VPBank có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu: Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng VPBank, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T, có đơn xin từ chối tham gia tố tụng và xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Hữu T, vắng mặt, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Phạm Hữu T vẫn không tham gia tố tụng theo quy định pháp luật. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số tiền gốc và lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 15/12/2017, ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T có vay vốn tại Ngân hàng VPBank, số tiền 367.000.000đ (Ba trăm sáu mươi bảy triệu đồng) là thực tế, được thể hiện tại hợp đồng tín dụng số LN1712120373149/CLN/HDTD. Qúa trình vay ông T, bà T đã trả được 114.218.771 đồng, còn lại 252.781.229 đồng. Hiện nay, đã quá hạn trả nợ theo hợp đồng nhưng ông T, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông T, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự.

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; Nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác” Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ, nên cần buộc ông ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng VPBank số tiền vay gốc còn lại là 252.781.229 đồng, và lãi suất phát sinh theo hợp đồng từ ngày vay đến khi trả nợ xong, là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Về lãi suất: Theo thỏa thuận của các bên đã ký kết trong hợp đồng tín dụng nói trên thì lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 8.9%/năm, cố định sáu tháng đầu, sau đó lãi suất thay đổi định kỳ 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, cụ thể như sau: Lãi suất trong hạn: 114.292.092 đồng.

Lãi suất quá hạn: 57.146.046 đồng.

Tổng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, tính từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là 171.438.138 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

[3] Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm khoản vay thì ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T đã ký hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1712120373149/CLN/HĐTCSP ngày 15/12/2017 để thế chấp: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

Xét việc ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa các đương sự là tự nguyện, tuân thủ nội dung và hình thức, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, được bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T thừa nhận, nên Tòa án công nhận Hợp đồng thế chấp giữa ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T với Ngân hàng VPBank là có thực và hợp pháp.

Vì vậy, trường hợp ông Phạm Hữu T\, bà Nguyễn Thị Mỹ T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế bán phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ cụ thể như sau: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu:Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

Sau khi ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng VPBank có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017 cho ông Phạm Hữu T theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH- 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 20.968.774đ (Hai mươi triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi tư đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo mức tính: [20.000.000đ + (24.219.367đ x 4%)] = 20.968.774đ.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 8.672.000đ (Tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 323, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền tính đến ngày 08/6/2022 là 424.219.367đ (Bốn trăm hai mươi tư triệu hai trăm mười chín nghìn ba trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó nợ gốc 252.781.229 đồng và nợ lãi 171.438.138 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Sau khi ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017 cho ông Phạm Hữu T theo quy định của pháp luật.

Trường hợp ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự, bán phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ, cụ thể: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu: Chevrolet, số loại Aveo, biển số 47A-210.03, số khung 69YDHH947369, số máy 4D3171630008, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 032772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/12/2017.

Về án phí: Buộc ông Phạm Hữu T, bà Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu 20.968.774đ (Hai mươi triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi tư đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo mức tính: [20.000.000đ + (24.219.367đ x 4%)] = 20.968.774đ.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 8.672.000đ (Tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0006646, ngày 18/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

158
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 36/2022/DS-ST

Số hiệu:36/2022/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Pắc - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về