Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 143/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 143/2022/HNGĐ-ST NGÀY 05/08/2022 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28/6/2022 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/7/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 38/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bàn Thị H, sinh năm 2000 Địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Bị đơn: Anh Đặng Đinh T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị Hồng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tăng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Bàn Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 05/8/2019, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, sau khi kết hôn vợ chồng chị sinh sống tại xóm 5, xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, quá trình chung sống tình cảm vợ chồng không có, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên sẩy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và tôn trọng nhau, quan trọng vợ chồng không có con chung, nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị giải quyết ly hôn anh Đặng Đinh T. Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung; không có, không đề nghị giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn anh Đặng Đinh T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Đặng Đinh T có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại Thôn X, xã L, huyện Yên Sơn, anh Tăng với chị Hồng lấy nhau có kết hôn, hiện nay anh chị mâu thuẫn đã sống ly thân từ năm 2020, hiện nay anh Tăng đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về thăm gia đình, về con chung, tài sản chung, nợ chung chị Hồng và anh Tăng không có. Anh Tăng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bàn Thị H. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa chị Bàn Thị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đặng Đinh T vắng mặt không có lý do.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bàn Thị H; Xử cho chị Bàn Thị H được ly hôn với anh Đặng Đinh T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Chị Bàn Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đặng Đinh T có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Thôn X, xã L, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Hồng có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn anh Đặng Đinh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các điều 28, 35 và điều 39 của BLTTDS.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị H đăng ký kết hôn với anh Đặng Đinh T tại Ủy ban nhân dân xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 05/8/2019, trên cơ sở tự nguyện. Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồng và anh Tăng là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau chung sống tại địa phương, trong quá trình chung sống chị Hồng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020, vợ chồng không còn tình cảm không quan tâm đến nhau, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Hồng và anh Tăng mẫu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H. Xử cho chị Bàn Thị H được ly hôn với anh Đặng Đinh T là phù hợp quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Hồng và anh Tăng không có con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H.

Xử: 1.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bàn Thị H được ly hôn với anh Đặng Đinh T.

2. Về án phí: Chị Bàn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004115, ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Hồng đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Bàn Thị H và anh Đặng Đinh T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

209
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 143/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:143/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Sơn - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về