Bản án về tội vi pham quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản số 103/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 103/2021/HS-ST NGÀY 18/08/2021 VỀ TỘI VI PHAM QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN

Ngày 18 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2021/TLST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ Bá G; tên gọi khác: không;

Sinh ngày 23/4/1979 tại xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản H3, xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ Xái T và bà Xồng Y K; có vợ là Lầu Y B và 04 con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/4/2021 đến nay, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công Th - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người làm chứng:

1, Ông Moong Văn H, sinh năm 1970; Địa chỉ: bản BS1, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2, Ông Cụt Văn Thiêm, sinh năm 1956; Địa chỉ: bản BS1, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

3, Anh Vừ Bá H, sinh năm 1998; Địa chỉ: bản H3, xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

4, Anh Lầu Bá C, sinh năm 1994; Địa chỉ: bản S, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng số 83/CT-VKS-KS ngày 27/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Vừ Bá G đã có hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản và bị truy tố theo điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vừ Bá G đã thừa nhận có hành vi vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản với các tình tiết đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Vào khoảng tháng 5 năm 2020, Vừ Bá G trong lúc đi rừng thì phát hiện 01 (một) khúc gỗ sa mu tại bờ Khe N ở khu vực rừng lô 3, khoảnh 1, tiểu khu 479 thuộc địa phận bản LT, xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An đã bị ai đó chặt hạ từ lâu, gỗ đang còn sử dụng được nên nên Vừ Bá G nảy sinh ý định cưa xẻ lấy gỗ đem về để sử dụng. Sau đó, Vừ Bá G về nhà lấy máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna, màu sơn đỏ đen rồi vào rừng xẻ khúc gỗ đã tìm thấy trước đó thành 30 (Ba mươi) tấm ván hòm (hậu sự) có kích thước khác nhau. Trong quá trình Vừ Bá G cưa xẻ số gỗ nói trên thì có con trai là Vừ Bá H (sinh năm 1998, trú tại bản H3, xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An) và con rể là Lầu Bá C (sinh năm 1994, trú tại bản S, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An) có đi theo vào để nấu cơm nước phục vụ (Vừ Bá H và Lầu Bá C không trực tiếp cưa, xẻ số gỗ và cũng không biết nguồn gốc số gỗ). Sau khi xẻ gỗ xong, Vừ Bá G vận chyển 27 (Hai mươi bảy) tấm gỗ về cất dấu tại nhà của mình, còn lại 03 (ba) tấm gỗ không sử dụng được nên để lại trong rừng. Trong số 27 (hai mươi bảy) tấm gỗ mà Vừ Bá G đã cưa xẻ đưa về nhà thì bị cáo đã sử dụng 10 (mười) tấm để đóng hòm (hậu sự), còn lại 17 (mười bảy) tấm Vừ Bá G cất dấu trong nhà.

Ngày 11/3/2021, Hạt Kiểm lâm huyện KS, tỉnh Nghệ An trong quá trình xác minh tin báo đã phát hiện và tiến hành thu giữ tại nhà của Vừ Bá G 08 (tám) tấm gỗ có kích thước 210cm x 40cm x 06cm; 08 (tám) tấm gỗ có kích thước 210cm x 65cm x 06cm; 01 (một) tấm gỗ có kích thước 150cm x 40cm x 06cm. Tổng khối lượng 17 (mười bảy) tấm là 1,094 m3 gỗ xẻ, tương đương 1,75 m3 (Một phẩy bảy mươi lăm mnét khối) gỗ quy tròn.

Ngày 26/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS, tỉnh Nghệ An đã tiến hành thu giữ của Vừ Bá G 01 (một) máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn đỏ đen, bị mất lưỡi cưa (lam) và dây xích.

Tại công văn số 27/CV-BQL của Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An khẳng định: Khu vực lô 3, khoảnh 1, tiểu khu 479, địa phận xã T thuộc quy hoạch đất rừng phòng hộ. Diện tích này thuộc Tổng đội Thanh niên xung phong 10 xã N quản lý.

Tại biên bản kiểm tra và lấy mẫu giám định tại hiện trường ngày 29/3/2021 thể hiện:

- Toàn bộ 17 thanh/tấm gỗ đồng nhất một chủng loại gỗ.

- Tên gỗ và nhóm gỗ thuộc phụ lục Cites sẽ có kết luận giám định sau khi có kết quả phân tích tế bào học trong phòng giám định của Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

- Chuyên gia Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trích 01 mẫu giám định (từ mẫu có số hiệu 01) đại diện cho lô gỗ nêu trên mang về để lưu mẫu và giám định tên gỗ và không làm ảnh hưởng đến khối lượng mẫu gỗ đã trích.

Ngày 18/3/2020, Hạt Kiểm lâm huyện KS, tỉnh Nghệ An đã có quyết định trưng cầu giám định số 47 để trưng cầu Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giám định mẫu lâm sản thu giữ của Vừ Bá G.

Tại kết luận giám định số 123/CNR-VP ngày 01/4/2021 của Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thể hiện:

1. Tính đồng nhất về chủng loại gỗ: Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo thô đại quan sát được bằng mắt thường và kính lúp cầm tay kết hợp mùi đặc biệt của lô gỗ giám định, kết luận: toàn bộ lô gỗ giám định gồm 17 tấm gỗ đồng nhất một chủng loại gỗ.

2. Tên loại gỗ: Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo thô đại và hiển vi của mẫu giám định có số đăng ký 14751, kiểm tra so sánh với mẫu tham chiếu và tài liệu, kết luận về tên gỗ như sau:

Tên Việt Nam: Sa mu dầu (Sa mộc dầu) Tên khoa học: Cunninghamia konishii Hayata Tên khoa học khác: Cunninghamia kawakamii Hayata Nhóm gỗ, danh mục Cites:

- Loại gỗ Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) được xếp Nhóm I trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước" ban hành kèm theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ Lâm nghiệp - nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Loài cây gỗ Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) thuộc Nhóm IA trong "Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm" ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

- Loài cây gỗ Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) không có tên trong “Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites)” ban hành kèm theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

3. Tình trạng bảo tồn:

- Loài cây gỗ Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) có trong “Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiểm được uu tiên bảo vệ" ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ về sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vừ Bá G phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, đề nghị áp dụng điểm k khoản 1 Điều 232, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vừ Bá G mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú, giám sát trong thời gian thử thách, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội do thiếu hiểu biết, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình hoàn cảnh khó khăn để cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, qua đó cũng thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi tàng trữ trái gỗ của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời kha người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố, như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 11/3/2021, qua kiểm tra xác minh tin báo, Cơ quan kiểm lâm huyện KS phát hiện bị cáo Vừ Bá G đang có hành vi cất dấu, tàng trữ trái phép 08 (tám) tấm gỗ có kích thước 210cm x 40cm x 06cm; 08 (tám) tấm gỗ có kích thước 210cm x 65cm x 06cm; 01 (một) tấm gỗ có kích thước 150cm x 40cm x 06cm, tổng khối lượng 17 (mười bảy) tấm là 1,094 m3 gỗ xẻ, tương đương 1,75 m3 (Một phẩy bảy mươi lăm nét khối) gỗ quy tròn thuộc chủng loại gỗ Sa mu dầu (Sa mộc dầu) là loại gỗ có trong “Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, thuộc nhóm IA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm” tại nhà ở của mình thuộc bản H3, xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Hành vi đó đã vượt quá mức tối đa về xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm e khoản 6 Điều 23 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, do đó hành vi của Vừ Bá G đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “Tàng trữ trái phép từ 1,5 mét khối (m3) đến dưới 03 mét khối (m3) gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến hệ sinh thái rừng được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, hậu quả của hành vi mà bị cáo đã thực hiện là không thể lường trước được, gây mất cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học rừng, gây xói mòn đất, lũ lụt, khô hạn. Do đó cần phải tuyên phạt bị cáo Vừ Bá G mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và luôn có thái độ ăn năn hối cải về hành vi mà mình đã gây ra vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, ngoài ra cũng cần xem xét đến một phần lỗi của đơn vị chủ rừng đã buông lỏng và thiếu trách nhiệm trong việc quản lý và bảo vệ rừng, công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng trong nhân dân chưa thực sự tốt, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, phần nào còn bị ảnh hưởng do truyền thống tập tục lâu đời của đồng bào các dân tộc ở miền núi đó là cuộc sống mưu sinh chủ yếu dựa vào rừng, ý thức chủ quan của bị cáo trong việc thực hiện hành vi tàng trữ trái phép gỗ thuộc danh mục cấm không vì mục đích lợi nhuận. Do đó chưa cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo biện pháp cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Đối với Vừ Bá H, Lầu Bá C tuy biết Vừ Bá G cưa xẻ gỗ nhưng cả hai không trực tiếp tham gia cưa, xẻ gỗ, không biết nguồn của gốc gỗ, không trực tiếp cất dấu số gỗ trên nên không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[6] Về vật chứng vụ án: Số gỗ Sa mu dầu (Sa mộc dầu) thu giữ trong vụ án là tài sản do phạm tội mà có nên phải tịch thu bán thanh lý nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 (một) máy cưa nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn đỏ đen, bị mất lưỡi cưa (lam) và dây xích là công cụ phạm tội nên phải tịch thu bán thanh lý nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm k khoản 1 Điều 232, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vừ Bá G phạm tội “Vi pham quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Xử phạt bị cáo Vừ Bá G 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2021).

Giao bị cáo Vừ Bá G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện KS, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu bán hóa giá sung nộp vào ngân sách Nhà nước các vật chứng sau:

- 17 (Mười bảy) tấm gỗ Samu có kích thước như sau:

STT

Loại gỗ

Số lượng (tấm)

Dài (m)

Rộng (m)

Dày (m)

Khối Lượng (m3)

01

Samu

08

2,1

0,4

0,06

0,403

02

Samu

08

2,1

0,65

0,06

0,655

03

Samu

01

1,5

0,4

0,06

0,036

Tổng

17

1,094 m3 (tương đương 1,75 m3 gỗ quy tròn)

- 01 (một) máy cưa nhãn hiệu “HUSQVARNA 365” màu đỏ-đen, đã bị mất lưỡi cưa và giây xích, máy đã qua sử dụng.

Các vật chứng hiện đang được quản lý, bảo quản tại kho vật chứng thuộc công an huyện KS, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho vật chứng số 67 ngày 07/5/2021 và Bảng thống kê lâm sản kèm theo (đối với vật chứng 17 tấm gỗ), Phiếu nhập kho vật chứng số 72 ngày 27/5/2021 (đối với vật chứng là 01 máy cưa).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vừ Bá G bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên bố bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2021)./.


23
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi pham quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản số 103/2021/HS-ST

Số hiệu:103/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kỳ Sơn - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về