Bản án về tội mua bán trái phép và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 58/2022/HSST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 58/2022/HSST NGÀY 30/06/2022 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP VÀ TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2022/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXX-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Bài L, xã Châu C, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Thị Th; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/01/2022 chuyển tạm giam ngày 24/01/2022 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).

2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Bài L, xã Châu C, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ư và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/01/2022 chuyển tạm giam ngày 24/01/2022 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).

3/ Vũ Văn S, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Nghĩa L, xã Châu C, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị Nh; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/01/2022 chuyển tạm giam ngày 24/01/2022 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).

4/ Dương Cao C, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Duy M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc:

Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Dương Văn Th (đã chết) và bà Trần Thị Th; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/01/2022 chuyển tạm giam ngày 25/01/2022 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Vì Thị Ng, sinh năm 2003; địa chỉ: Đội 11, xã Thanh X, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

- Anh Vũ Văn B, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Nghĩa L, xã Châu C, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Phúc L, xã Phúc T, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Chị Lê Thị G, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố Giáp Nh, phường Bạch Th, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

*Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Huy Th, sinh năm 1999 (vắng mặt); chị Quàng Thị H, sinh năm 2003 (vắng mặt); chị Lò Thị H, sinh năm 2004 (vắng mặt); chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000 (vắng mặt); chị Nguyễn Thảo Nh, sinh năm 2002 (vắng mặt); anh Đặng Xuân L, sinh năm 1990 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 13/01/2022, sau khi uống rượu cùng nhau tại quán 268 ở tổ dân phố Ngũ Nội, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xong, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S cùng Vũ Văn B và Nguyễn Huy Th SN 1999, trú tại thôn Bài Lễ, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội rủ nhau đến hát tại quán Karaoke Táo Đỏ thuộc tổ dân phố Ngũ Nội, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Tại quán Táo Đỏ, nhóm của Đ gọi 04 nhân viên nữ của quán và 01 nhân viên nữ ở ngoài vào để phục vụ trong phòng hát. Đến khoảng 01 giờ ngày 14/01/2022, Đ gọi T và S đi ra ngoài và rủ gọi bóng cười vào phòng hát để chơi thì T và S đồng ý. Đ đi ra quầy lễ tân gặp Dương Cao C là quản lý của quán Táo Đỏ, hỏi “Quán có cho chơi bóng cười không”, C nói “Không”. Thấy vậy, Đ quay lại nói với T và S là quán không cho chơi bóng cười rồi Đ rủ T, S chuyển đến quán hát khác để thuê phòng chơi bóng cười. Sau đó, Đ tiếp tục nói “Có chơi kẹo không”, tức là có sử dụng ma túy loại tổng hợp thường được gọi là kẹo không thì T và S đồng ý.

Do không biết chỗ mua ma túy kẹo nên Đ và S đi ra quầy lễ tân gặp C, Đ nói “Anh có chỗ nào gọi mua kẹo không”, hiểu ý của Đ muốn hỏi chỗ mua ma túy kẹo và do trước đó trong quá trình trông coi ở quán Táo Đỏ, có một nam thanh niên không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể đến quán gặp C, nói “Nếu có khách hát có nhu cầu mua ma túy kẹo, ke, bóng cười thì gọi cho anh rồi anh cắt phần trăm hoa hồng cho” rồi cho C số điện thoại 0326843711 để C liên lạc nên C lấy điện thoại của mình ra, tìm trong danh bạ có số điện thoại là 0326843711, được lưu với tên là “Bóng cười” rồi sử dụng số điện thoại của mình là 0972827186 gọi vào số điện thoại này thì có một nam thanh niên nghe máy, C nói “Anh có bán kẹo không”, người này nói “Có” và bảo C gửi số điện thoại 0326843711 của mình cho người hỏi mua ma túy là Đ. C đồng ý, tắt cuộc gọi và đọc số điện thoại 0326843711 của người bán ma túy cho Đ để Đ trực tiếp liên hệ. Lúc này, Đ hỏi S và T “Lấy mấy viên” thì S bảo “Lấy 03 viên”, Đ nói “Ba viên sợ không đủ” nên tất cả thống nhất gọi 04 viên ma túy kẹo. Đ sử dụng số điện thoại của mình là 0348285210 gọi điện vào số điện thoại 0326843711 C vừa cho thì có một nam thanh niên nghe máy. Đ hỏi mua 04 viên ma túy kẹo thì người này đồng ý bán với giá 350.000 đồng/viên và hẹn gặp Đ ở gần cổng quán Táo Đỏ để giao nhận tiền, ma túy. Sau khi gọi hỏi mua ma túy xong, Đ, S và T đi vào phòng hát gọi Biết, Th nghỉ để thanh toán tiền hát và chuyển địa điểm khác. Khi B ra thanh toán tiền hát ở quán Táo Đỏ, Đ quay sang hỏi T “Có tiền không”, T nói “Có nhưng phải đi rút”, Đ nói Đ chỉ còn đủ tiền mua ma túy tổng hợp dạng kẹo nên rủ Th đi rút tiền ở cây ATM trong Khu công nghiệp Đồng Văn. Do không có tiền mặt để mua ma túy nên Đ vào gặp C và hỏi “Anh có tiền mặt ở đây không để em chuyển khoản 1.500.000 đồng”. C nói “Có” và đọc số tài khoản của mình cho Đ. Đ chuyển khoản cho C 1.500.000 đồng qua ứng dụng trên điện thoại và C đưa lại cho Đ 1.500.000 đồng tiền mặt.

Sau đó, Đ và S đi ra cửa quán Táo Đỏ chờ khoảng 10 phút thì có một nam thanh niên điều khiển xe mô tô, loại Exciter màu trắng (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ của người này và biển số xe mô tô) đi đến đầu dốc gần cửa quán Táo Đỏ, Đ đi đến gặp nam thanh niên và nói “Anh mang đồ đến à”, người này nói “Ừ”. Đ đưa cho nam thanh niên này 1.400.000 đồng thì người này đã đưa cho Đ 01 túi nilon bên trong có 04 viên ma túy kẹo. Đ cầm túi ma túy vừa mua được rồi cùng S, B và chị Vì Thị Ng là nhân viên phục vụ cùng nhau đi ra quán Chí Viễn do chị Lê Thị G là chủ quán. Hiện chị G đã cho anh Nguyễn Văn B thuê quán hát này.

Tại quán Karaoke Chí Viễn, anh Nguyễn Văn B dẫn nhóm Nguyễn Tiến Đ vào phòng Vip2. S gọi điện cho chị Quàng Thị H – SN 2003, cư trú tại đội 6, xã Thanh X, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên là nhân viên phục vụ, bảo chị H gọi thêm cho 02 nhân viên phục vụ nữa là Lò Thị H, sinh ngày 02/9/2004, cư trú tại Bản Na H, xã Hua Th, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên; Nguyễn Thảo Nh – SN 2002, cư trú tại phường Hùng V, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng. Đồng thời, S gọi thêm 01 nhân viên nữ của quán Chí Viễn là Nguyễn Thị H SN 2000, cư trú tại xóm 5, xã Đại Th, huyện Yên Th, tỉnh Nghệ An đến phục vụ nhóm của mình. Tại phòng hát, Đ đưa lại cho T gói nilon bên trong có 04 viên ma túy kẹo vừa mua được để T chia cho mọi người sử dụng. T cầm gói ma túy Đ đưa, lấy ra 02 viên bỏ vào túi nilon của vỏ bao thuốc lá, nghiền nhỏ ra rồi cho vào các cốc nước coca cola và đem mời tất cả những người trong phòng sử dụng. Tuy nhiên, chỉ có Vũ Văn S, Vũ Văn B và Vì Thị Ng sử dụng, còn Nguyễn Huy Th, Nguyễn Thảo Nh, Nguyễn Thị H, Lò Thị H và Quàng Thị H, không sử dụng nước coca cola có pha ma túy kẹo do S mời. Còn 02 viên ma túy kẹo, T đưa cho Đ 01 viên, T bẻ 01 viên làm đôi và sử dụng ½ viên, đưa cho chị Lò Thị H là người ngồi cạnh mình ½ viên nhưng chị H không sử dụng mà mang ra nhà vệ sinh thả vào bồn cầu rồi xả nước. Đ bẻ đôi viên ma túy T đưa và sử dụng ½ viên, cầm ½ viên ra chỗ B đang nằm, bảo B há mồm ra, cho vào mồm B và nói “Nhai đi”. B nhai thấy đắng nên lấy chai nước lọc ở quán uống. Đến khoảng 03 giờ ngày 14/01/2022, S đi ra ngoài gặp anh B gọi 01 bình bóng cười vào phòng để mọi người cùng sử dụng.

Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam kiểm tra hành chính phòng Vip 2 quán Karaoke Chí Viễn đã phát hiện nhóm Đ có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản vụ việc và đưa về Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên điều tra, làm rõ.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại phòng Vip 2 quán Karaoke Chí Viễn: 01 bình dùng để chứa khí, loại khí N2O, vỏ bằng kim loại, sơn màu vàng. Thu của Nguyễn Tiến Đ: 01 di dộng Iphone màu trắng, số IMEI: 354385061372956, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên sim in các dãy số 89840, 48000, 07628, 1471. Thu của Dương Văn C: 01 điện thoại loại màu đen trắng không cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Nokia 210, số IMEI 1: 35314911961701, IMEI 2: 3531491961700, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên mặt sim có in các dãy số: 8984, 0480, 0001, 4509, 422.

Kết quả xét nghiệm xác định chất ma túy thể hiện: Nguyễn Tiến Đ, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T, Vũ Văn B, Lò Thị H, Nguyễn Thị H và Vì Thị Ng dương tính với MET, MDMA. Mặc dù, chị Lò Thị H và Nguyễn Thị H có kết quả dương tính với MET, MDMA, tuy nhiên tại cơ quan điều tra, cả chị H và chị H đều khai báo không sử dụng ma túy tại quán Karaoke Chí Viễn ngày 14/01/2022 mà trước đó khoảng 01 tuần trong quá trình đi phục vụ tại quán hát khác, bản thân đã sử dụng ma túy kẹo cùng khách hát. Ngoài lời khai của chị H và chị H ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định ngày 14/01/2022 có sử dụng ma túy tại quán Karaoke Chí Viễn.

Quá trình điều tra xác định số điện thoại 0326843711, có chủ thuê bao là bà Lê Thị D SN 1968, cư trú tại xã Tân Ch, huyện Khoái Ch, tỉnh Hưng Yên. Bà Lê Thị D cho biết bản thân từ trước đến nay chưa bao giờ đứng tên hoặc được ai nhờ đứng tên đăng ký và sử dụng số điện thoại trên. Vì vậy, không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho Đ hiện đang dùng số điện thoại trên là ai, ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với 01 bình dùng để chứa khí, loại khí N2O, vỏ bằng kim loại, sơn màu vàng thu tại quán Chí Viễn, Cơ quan điều tra đề nghị tách riêng để phục vụ công tác xử lý đối với Nguyễn Văn B về hành vi kinh doanh bóng cười.

Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 08/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T và Vũ Văn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Dương Cao C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Dương Cao C. Xử phạt Nguyễn Tiến Đ từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm tù; xử phạt Vũ Văn S, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; xử phạt Dương Cao C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động và tuyên án phí đối với các bị cáo.

Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ ngày 14/01/2022, tại quán Karaoke Táo Đỏ thuộc tổ dân phố Ngũ Nội, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S đã bàn bạc, thống nhất với nhau mua 04 viên ma túy tổng hợp thường được gọi là kẹo để đem đến phòng Vip 2 quán Karaoke Chí Viễn thuộc tổ dân phố Giáp Nhất, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tổ chức cho nhau và cho Vũ Văn B, Vì Thị Ng sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức uống trực tiếp bằng nước lọc và pha vào nước ngọt.

Tại quán Karaoke Táo Đỏ, khi Đ và đồng bọn có nhu cầu mua ma túy nên Đ và S đi ra quầy lễ tân gặp Dương Cao C, nói “Anh có chỗ nào gọi mua kẹo không”. Do có hứa hẹn từ trước với 01 nam thanh niên có số điện thoại là 0326843711, nếu C giúp đối tượng này bán được ma túy thì C sẽ được hưởng tiền hoa hồng do đối tượng này trả nên C đã gọi điện cho đối tượng có số điện thoại 0326843711 bảo người này bán ma túy cho nhóm của Đ, đồng thời cho Đ số điện thoại của người này để Đ liên lạc trực tiếp. Sau đó, đối tượng có số điện thoại 0326843711 đã bán cho Đ cùng đồng bọn 04 viên ma túy kẹo với giá 1.400.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Dương Cao C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét vai trò: Vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; bị cáo Nguyễn Tiến Đ là người rủ rê, trực tiếp thực hiện tội phạm nên giữ vai trò đầu; bị cáo Vũ Văn S thực hiện tội phạm tích cực nên giữ vai trò thứ hai; Nguyễn Văn T giữ vai trò đồng phạm trong vụ án; bị cáo Dương Cao C chịu trách nhiệm độc lập về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng Dương Cao C có thời gian tham gia quân đội, có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, nghiêm trọng vì thế cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về các hành vi khác:

Đối với người đã sử dụng số điện thoại 0326843711 liên lạc bán 04 viên ma túy cho Nguyễn Tiến Đ, kết quả xác minh không làm rõ được là ai nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Văn B do thiếu quản lý, không biết nhóm của Nguyễn Tiến Đ sử dụng chất ma túy trong quán Kraoke Chí Viễn nên Công an thị xã Duy Tiên đã có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND thị xã Duy Tiên xử lý theo quy định của pháp luật là đúng.

Đối với Vũ Văn B, Vì Thị Ng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng này là đúng.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với: 01 bình dùng để chứa khí, loại khí N2O, vỏ bằng kim loại, sơn màu vàng, cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý riêng nên không đặt ra xem xét. Đối với: 01 di dộng Iphone màu trắng, số IMEI: 354385061372956, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên sim in các dãy số 89840, 48000, 07628, 1471; 01 điện thoại loại màu đen trắng không cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Nokia 210, số IMEI 1: 35314911961701, IMEI 2: 3531491961700, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên mặt sim có in các dãy số: 8984, 0480, 0001, 4509, 422 các đối tượng sử dụng liên lạc mua bán, ma túy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Dương Cao C.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Dương Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

+ Nguyễn Tiến Đ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2022.

+ Vũ Văn S 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2022.

+ Nguyễn Văn T 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2022.

+ Dương Cao C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 di dộng Iphone màu trắng, số IMEI: 354385061372956, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên sim in các dãy số 89840, 48000, 07628, 1471; 01 điện thoại loại màu đen trắng không cảm ứng, vỏ màu đen, nhãn hiệu Nokia 210, số IMEI 1: 35314911961701, IMEI 2: 3531491961700, bên trong lắp 01 sim điện thoại, trên mặt sim có in các dãy số: 8984, 0480, 0001, 4509, 422.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Văn T, Vũ Văn S, Dương Cao C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Báo cho các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

200
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 58/2022/HSST

Số hiệu:58/2022/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về