Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 74/2021/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 74/2021/HS-ST NGÀY 07/07/2021 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị M, sinh ngày 18/10/1984, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 112A, đường số 2, phường 16, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở tạm trú hiện nay: Phòng 1802 W3, chung cư V, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và con bà Mai Thị T, sinh năm 1959; chồng là Tạ Đình T, sinh năm 1978 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Chị Hoàng Minh H, sinh năm 1996; địa chỉ: Số 76, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn K. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2016 bị cáo Nguyễn Thị M tự lập tài khoản Facebook tên "Nguyễn Thị M" trên điện thoại di động để sử dụng mục đích cá nhân. Qua tìm hiểu Nguyễn Thị M biết được dịch vụ đổi tiền, chuyển tiền tự phát trên mạng xã hội Facebook, nên đã dùng tài khoản Facebook này để tham gia vào các nhóm "Tỷ giá - Đổi tiền Trung - Việt, Nhân dân tệ - Việt Nam đồng". Vào năm 2020, do làm ăn thua lỗ, nợ tiền nhiều người, bản thân mới sinh con, cuộc sống khó khăn, không có tiền để chi tiêu cá nhân nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác thông qua giao dịch đổi tiền Nhân dân tệ - Việt Nam đồng trên mạng xã hội. Khoảng đầu tháng 01 năm 2021 Nguyễn Thị M đăng lên nhóm với nội dung "Nhận đổi tiền 2 chiều Việt Pháp, Việt Úc, Việt Trung, giá luôn tốt nhất, ai cần liên hệ Zalo 0905583322" và đăng vào nhiều thời điểm khác nhau, nhưng thực tế Nguyễn Thị M không có các nguồn ngoại tệ, không có các mối quan hệ và giấy phép để thực hiện việc đổi, chuyển tiền trong và ngoài nước như nội dung đã đăng trên Facebook.

Khoảng 15 giờ ngày 06/01/2021, Nguyễn Thị M nhận được tin nhắn đến qua ứng dụng Messenger Facebook từ tài khoản Facebook tên "Hoàng Minh H", của chị Hoàng Minh H, sinh năm 1996, trú tại số 76, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn muốn đổi tiền Nhân dân tệ (CNY) để chuyển đến số tài khoản 6217852600000623637 của "Van Kien Chung" tại ngân hàng bên Trung Quốc. Nguyễn Thị M đã đồng ý và thỏa thuận với chị Hoàng Minh H sẽ đổi tỷ giá 01 CNY đổi thành 3.664 đồng. Sau đó chị Hoàng Minh H đã chuyển số tiền 109.517.000 đồng từ tài khoản số 19034762556017 của mình tại Ngân hàng Techcombank vào số tài khoản 104066054411 của Nguyễn Thị M tại Ngân hàng Vietinbank. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Thị M không thực hiện việc chuyển tiền theo như thỏa thuận và chặn liên lạc Facebook nhằm chiếm đoạt số tiền trên. Sau đó Nguyễn Thị M đã chuyển hết số tiền nhận được từ chị Hoàng Minh H đến số tài khoản 19034333521019 tại Ngân hàng Techcombank của Nguyễn Khắc H, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú thôn P, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội, là người sống như vợ chồng với Nguyễn Thị M tại phòng 1802 W3, chung cư V, phường M, quận N, thành phố Hà Nội và nói với Nguyễn Khắc H đây là số tiền có được từ việc đầu tư kinh doanh tại Đà Nẵng, sau đó Nguyễn Khắc H rút toàn bộ số tiền trên đưa cho Nguyễn Thị M để chi tiêu cho bản thân và gia đình.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nêu trên. Nguyễn Thị M đã nộp được 50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, ngày 02/4/2021 Cơ quan điều tra đã bàn giao số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại Hoàng Minh H.

Đối với người làm chứng Nguyễn Khắc H vắng mặt tại phiên tòa: Quá trình điều tra Nguyễn Khắc H khai nhận quen biết Nguyễn Thị M từ tháng 3/2020, sau đó nảy sinh tình cảm và về chung sống vợ chồng từ tháng 11/2020. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ biết Nguyễn Thị M làm kinh doanh hải sản tại Đà Nẵng, việc Nguyễn Thị M lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại Hoàng Minh H như thế nào Nguyễn Khắc H không biết. Khi Nguyễn Khắc H nhận số tiền 110.000.000 đồng do Nguyễn Thị M chuyển đến thì nghĩ rằng đây là tiền kinh doanh có được để chi tiêu việc gia đình. Với căn cứ trên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Khắc H về hành vi đồng phạm với Nguyễn Thị M.

Bị hại chị Hoàng Minh H, tại phiên tòa trình bày nội dung sự việc đúng như hành vi phạm tội của Nguyễn Thị M như nêu trên. Nay bị hại chị Hoàng Minh H yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị M trả lại số tiền còn thiếu là 59.517.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Hiện tạm giữ của Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu “Iphone 6 Plus” màu đồng đã qua sử dụng, số Imei 352002070512975 bên trong gắn 01 sim Mobifone số thuê bao 0905583322, ghi trên mặt sim dãy số 8401201112120895.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 08 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị M và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường trả cho bị hại số tiền chiến đoạt còn thiếu là 59.517.000 đồng; về vật chứng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, gắn kèm sim của bị cáo do sử dụng vào việc phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền còn phải trả lại cho bị hại theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo an tâm cải tạo sớm được trở về với gia đình, có điều kiện nuôi con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng, tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng anh Nguyễn Khắc H, nhưng đã có lời khai trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh Nguyễn Khắc H tại phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ, đúng quy định.

[3] Về hành vi phạm tội, thể hiện qua lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị M tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ và các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định: Khoảng 15 giờ ngày 06/01/2021 bị cáo Nguyễn Thị M sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên "Nguyễn Thị M" để nhận đổi tiền Nhân dân tệ cho chị Hoàng Minh H, nhưng thực chất Nguyễn Thị M không có các nguồn ngoại tệ, không có các mối quan hệ và giấy phép để thực hiện việc đổi, chuyển tiền trong và ngoài nước, nhưng có ý lừa đảo từ trước để chiếm đoạt tài sản. Sau khi được chị Hoàng Minh H chuyển số tiền 109.517.000 đồng thì Nguyễn Thị M không thực hiện việc chuyển tiền theo như thỏa thuận và chặn liên lạc Facebook, sau đó chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân.

[4] Với hành vi gian dối thông qua việc nhận đổi tiền Việt Nam đồng sang tiền Nhân dân tệ (của Trung Quốc), sau đó chiếm đoạt số tiền 109.517.000 đồng của Nguyễn Thị M đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, là chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong trong quần chúng nhân dân. Để quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá nguyên nhân, hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả được 50.000.000 đồng trả cho bị hại; và tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có bố đẻ là thương binh; về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự; bản thân đã ly hôn và đang nuôi con nhỏ 7 tháng tuổi.

[7] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, thấy bị cáo chiếm đoạt số tiền trên 100.000.000 đồng mà không mất công sức lao động, ảnh hưởng đến tài sản, kinh tế của công dân, do vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu, bản thân chưa có tiền án tiền sự, tại phiên tòa thành khẩn ăn năn hối cải, nên xử phạt mức án khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, sớm trở về với gia đình, chăm sóc nuôi con còn nhỏ.

[8] Về hình phạt bổ sung, căn cứ kết quả xác minh của cơ quan điều tra, xét hỏi tại phiên tòa, thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo chiến đoạt số tiền 109.517.000 đồng, đã trả được 50.000.000 đồng. Do vậy, cần buộc bị cáo phải trả cho hại chị Hoàng Minh H số tiền còn thiếu là 59.517.000 đồng và phải chịu lãi chậm trả theo quy định.

[10] Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu “Iphone 6 Plus” hiện thu giữ của bị cáo, do sử dụng dùng vào việc tạo tài khoản để chiếm đoạt tài sản, nên xác định là công cụ phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[11] Đối với anh Nguyễn Khắc H là người nhận số tiền chiếm đoạt từ bị cáo, sau đó đã chuyển lại cho Nguyễn Thị M để chi tiêu cho gia đình. Quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh anh Nguyễn Khắc H là đồng phạm, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là đúng quy định.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Lạng Sơn về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo, bị hại là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả bị hại 59.517.000 đồng x 5% = 2.975.000 đồng (tròn số), theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[14] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải trả cho bị hại chị Hoàng Minh H số tiền 59.517.000 đồng (năm mươi chín triệu, năm trăm mười bẩy nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ phải thi hành chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

4. Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Iphone 6 Plus” màu đồng đã qua sử dụng, số Imei 352002070512975 bên trong gắn 01 sim Mobifone, số thuê bao 0905583322, ghi trên mặt sim dãy số 8401201112120895 của bị cáo Nguyễn Thị M.

(Vật chứng nêu trên được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.975.000 đồng (hai triệu chín trăm bẩy mươi năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 3.175.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 74/2021/HS-ST

Số hiệu:74/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/07/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về