Bản án 844/2017/PT-HS ngày 22/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 844/2017/PT-HS NGÀY 22/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22/11/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 772/2017/TLPT-HS ngày 10/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 285/2017/ST-HS ngày 01/09/2017 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970; nguyên quán: xã Vân Trường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; hiện trú tại: Phòng 219 nhà B5 khu tập thể Tân Mai, phường TM, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; con ông Nguyễn Thượng Tr và bà Nguyễn Thị H;  tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Từ ngày 28/12/1991 đến ngày 27/01/2006 bị cáo đã 06 lần bị Tòa án nhân dân các quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng, quận Hoàng Mai và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt tù đều về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2017 tại Trại tạm giam số 02 của Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/3/2017 tại khu vực ngõ 637 phố TrĐ, quận H, Tổ công tác của Công an phường TL phối hợp cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H, thành phố Hà Nội đã phát hiện và bắt quả tang Hoàng Hải L tàng trữ 01 gói Hêrôin có trọng lượng theo giám định là 0,178 gam. L khai nhận vừa mua gói Hêrôin trên của đối tượng Ph tại địa chỉ số 790 phố Trương Định, phường Thịnh Liệt, quận H với giá 200.000 đồng để sử dụng.

Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 07/3/2017 tại khu vực trước cửa số nhà 02 ngõ 269 phố GB, quận H, Tổ công tác công an phường GB phối hợp cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ tàng trữ 03 gói chất bột màu trắng, qua giám định là Hêrôin với tổng trọng lượng là 0,462gam. Đ khai nhận được một đối tượng (Không xác định được) đưa 600.000 đồng nhờ đi mua 03 gói ma túy với giá 200.000 đồng/1 gói; mua về anh ta sẽ cho Đ một gói để sử dụng; trước đó khoảng 1 tuần Đ cũng mua hộ anh ta 02 gói và được cho một gói để sử dụng và ngày 05/3/2017, Đ cũng mua 01 gói; tất cả những lần mua ma túy trên Đ đều mua của đối tượng Ph hoặc Đoan tại địa chỉ số 790 phố Trương Định, phường Thịnh Liệt, quận H.

Căn cứ lời khai của Hoàng Hải L và Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra Công an quận H tiến hành bắt, khám xét khẩn cấp đối với Phạm Thị Thanh Ph và Ngô Văn Đoan tại địa chỉ số 790 phố TrĐ, phường TL, quận H, thành phố Hà Nội đã thu giữ nhiều gói nhỏ Hêrôin với tổng trọng lượng là 15,076 gam.

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 285/2017/ST-HS ngày 01/9/2017 của Tòa án nhân dân quận H đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn xử phạt Phạm Thị Thanh Ph 10 năm tù, Ngô Văn Đoan 11 năm tù đều về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Hoàng Hải L 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự; phạt bổ sung Ph và Đoan mỗi bị cáo 10.000.000 đồng; quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/9/2017, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Ti phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 231; 234; điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức. Về nội dung: Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù nhưng đã xóa án tích; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự thú cả những hành vi trước đó của mình nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt, xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 07/3/2017 tại cửa nhà số 02 ngõ 269 phố GB, quận H, Công an phường GB và Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận H đã bắt quả tang Nguyễn Văn Đ cất giữ trong người 03 gói Hêrôin có tổng trọng lượng theo giám định là 0,462gam. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa Nguyễn Văn Đ đều khai được một đối tượng nam thanh niên không quen đưa cho 600.000 đồng nhờ Đ đi mua số ma túy trên để sử dụng và cho Đ sử dụng cùng; bị cáo đã đến nhà Phạm Thị Thanh Ph và Ngô Văn Đoan ở số 790 phố TrĐ, phường TL, quận H mua 03 gói Hêrôin, trên đường về thì bị bắt; Đ cũng khai trước đó đã mua hộ cho đối tượng trên một lần 02 gói và được cho một gói để sử dụng.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Thứ nhất, Nguyễn Văn Đ là người nghiện ma túy; khi bị bắt Cơ quan điều tra thu giữ trong người Đ 03 gói với tổng trọng lượng 0,462 gam Hêrôin; mục đích Đ mua số ma túy trên về chỉ là nhằm sử dụng trái phép; đối tượng nam thanh niên nhờ Đ đi mua ma túy như Đ khai không chứng minh được.

Thứ hai, nếu cho rằng việc Đ khai đi mua hộ chất ma túy cho người khác và được hưởng lợi là việc cùng sử dụng chất ma túy là đúng thì hành vi đó của Nguyễn Văn Đ cũng không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.3 mục 3 phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao - Bộ Tư pháp. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ lời khai duy nhất của Nguyễn Văn Đ để kết án bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội nhiều lần” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là chưa đủ căn cứ vững chắc. Hành vi nêu trên trên của Nguyễn Văn Đ chỉ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự để xử phạt đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ là nghiêm trọng; hành vi đó chẳng những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nghiện ngập ma túy, bệnh xã hội nguy hiểm, làm băng hoại nhân cách, hủy hoại hạnh phúc gia đình, suy thoái về nòi giống, kiệt quệ về kinh tế; về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị kết án tuy đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm những bài học cảnh tỉnh bản thân, tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội phạm này.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ các Điều 98; 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn Đ, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ 05 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2017.

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Thị Thanh Ph, Ngô Văn Đoan, Hoàng Hải L; về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về