Bản án 33/2017/HSPT ngày 20/06/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 33/2017/HSPT NGÀY 20/06/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 20 tháng 6 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2017/HSPT ngày 05 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện LV, tỉnh Lạng Sơn.

Bị cáo có kháng cáo: V; sinh ngày: 01/7/1987 tại huyện XN, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn DL, xã QH, huyện XN, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Không rõ; con bà: N; có vợ là L và hai con (con lớn sinh năm 2011; con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ ngày 22/12/2016; tạm giam ngày 25/12/2016. Có mặt.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện LV, tỉnh Lạng Sơn và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện LV, tỉnh Lạng Sơn thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

V là đối tượng nghiện ma túy thường xuyên mua ma túy ở Trung Quốc. Ngày 21/12/2016, V mua với một người đàn ông Trung Quốc một cục bột chất ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó V lấy ra một phần để đốt hút. Số còn lại V gói vào trong mảnh nilon cất giấu vào giữa hai lớp của dây đai gùi hàng nhằm mục đích để hôm sau sử dụng tiếp. Khoảng 08 giờ ngày 22/12/2016 khi V khoác trên vai chiếc dây đai gùi hàng có cất giấu ma túy, khi đang trên đường mòn về Việt Nam thì bị bắt quả tang. Thu giữ cục chất bột màu trắng, qua giám định là chất ma túy heroin có tổng trọng lượng 0,788 gam (đã trừ bì).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 04/4/2017, Toà án nhân dân huyện LV, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo V phạm Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo V 03 năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2016.

Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 17 tháng 4 năm 2017, bị cáo V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên sau tranh luận, đề nghị xem xét: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, Tòa án nhân dân huyện LV đã xét xử đúng người, đúng tội, không oan; đồng thời đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đúng quy định. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không đưa ra được tình tiết nào mới  làm  căn  cứ  cho  việc  kháng  cáo.  Tuy  nhiên  vận  dụng  Nghị  quyết  số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội thì bị cáo được hưởng quy định có lợi cho người phạm tội. Cụ thể là cần áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử hành vi phạm tội của bị cáo V, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sửa bản án sơ thẩm từ 03 năm tù xuống 02 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo không thắc mắc về tội danh, xử lý vật chứng và án phí mà bản án sơ thẩm đã quyết định. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng.

Xét thấy, bị cáo V đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,788 gam chất ma túy heroin nhằm mục đích để sử dụng nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

Bị cáo V là người nghiện ma túy, có nhân thân không tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù như vậy là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đã xem xét đầy đủ đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Sau xét xử sơ thẩm bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết mới làm căn cứ cho kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của mình. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không có căn cứ để chấp nhận đề nghị sửa án sơ thẩm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Vì Tòa án cấp sơ thẩm đã vận dụng đầy đủ các quy định có lợi cho người phạm tội được quy định tại Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; đồng thời quyết định mức án đối với hành vi phạm tội của bị cáo V trong phạm vi khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo V 03 (ba) năm tù về Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2016.

2. Về án phí:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


396
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về