Bản án 61/2020/HS-ST ngày 19/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 61/2020/HS-ST NGÀY 19/05/2020 VỀ TI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA Y

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2020/TLHS-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân D, sinh năm 1974 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn TH, xã TT, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 (đã chết) và bà Phạm Thị K2, sinh năm 1942; có vợ là: Lê Thị D, sinh năm 1972 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/01/2020 và chuyển tạm giam từ ngày 15/01/2020 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an thành phố Phủ Lý; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Ninh Văn Gi, sinh năm 1963; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05/01/2020, Nguyễn Xuân D điều khiển xe mô tô không đeo biển kiểm soát từ nhà đến thành phố Phủ Lý mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì D gặp một nam thanh niên giới thiệu tên Tuân khoảng 30 tuổi nhà ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tuân nói “Anh có tiền không, góp tiền để mua hàng về chơi”. D hiểu ý Tuân rủ góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng nên đồng ý và lấy 100.000đ đưa cho Tuân. Tuân cầm tiền và bảo D đợi rồi điều khiển xe mô tô đi, một lúc sau quay lại bảo D đi theo. D điều khiển xe mô tô đi theo Tuân ra khu vực bờ kè sông Đáy thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì Tuân dừng lại và đưa cho D 01 gói giấy bạc màu vàng. Biết là gói ma túy nên D cầm thì bị lực lượng Công an phường Thanh Châu đến yêu cầu kiểm tra. Thấy lực lượng Công an thì Tuân điều khiển xe mô tô bỏ chạy, còn D bị giữ lại. Lực lượng Công an thu giữ trong tay trái của D 01 gói giấy bạc màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và D khai nhận đó là ma túy của D vừa mua mục đích để sử dụng.

Thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01);

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Dream, không đeo biển kiểm soát đã qua sử dụng.

Ngày 06/01/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Xuân D. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 02/PC09-MT ngày 10/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,158g, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS-PL ngày 31/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Xuân D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Dream, không đeo biển kiểm soát đã qua sử dụng.

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và nhng người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân D đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 05/01/2020, tại tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Xuân D đang cất giữ trái phép 0,158 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình s. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng nhì” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

- Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân là lao động tự do, mục đích tàng trữ để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Xuân D: Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định được nhân thân, lai lịch của người nam thanh niên đã đưa ma túy cho D. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[7] Xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy cùng bao gói thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream nhãn hiệu Honda không đeo biển kiểm soát. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo D đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp lut.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015 của Quốc hi.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma y”.

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2020. [3] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong số 02/PC09-MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 tại mép dán mặt sau có hai chữ ký và hai dòng chữ ghi: Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Thị Thu Hiền, một chữ ký đóng dấu chức danh trưởng phòng thượng tá Nguyễn Đại Hữu và đóng ba dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe máy loại nữ nhãn hiệu Honda kiểu dáng Dream màu nâu, không đeo biển kiểm soát, số máy: 01010097, số khung: không xác định.

Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/4/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý.

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân D phải nộp:

200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân s; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 61/2020/HS-ST ngày 19/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:61/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về