Bản án 57/2017/HS-ST ngày 30/10/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 57/2017/HS-ST NGÀY 30/10/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2017/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2017/HSST-QĐ ngày 19 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Đặng Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1986 tại tỉnh Tây Ninh. Trú tại: Ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Đặng Đình L và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2017 đến nay; bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh T là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Minh T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh. Có mặt

Bị hại: Anh Lê Thành M, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 15/7/2017, Đặng Nguyễn Ngọc L và Lê Thành M, Nguyễn Thanh B, Ngô Phước A cùng đánh bạc thắng thua bằng tiền tại quán của anh Lương Ngọc T thuộc ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Trong lúc đánh bạc, L thua M 300.000 đồng nhưng không có tiền trả nên bị M dọa đánh. L mượn xe của A đi thế chấp lấy tiền trả cho M nhưng không thế chấp được, sợ bị M đánh nên L về nhà lấy 01 cây dao dài 23 cm bỏ vào túi quần rồi quay lại chỗ đánh bạc, L nói với M là không thế chấp được xe và hẹn hôm sau sẽ trả tiền thì M đồng ý. Sau đó, L dùng tay phải lấy cây dao trong túi quần và đi vòng ra phía sau chỗ M ngồi, L dùng dao đâm 01 cái trúng vào vùng bụng của M, M đứng dậy dùng hai tay nắm lấy tay cầm dao của L, cả hai giằng co qua lại thì M bị mũi dao đâm trúng vào vùng cổ. Lúc này mọi người đến can ngăn thì L tự bỏ đi đến Công an xã A đầu thú. M được đi cấp cứu tại bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 25/7/2017 thì xuất viện. Ngày 24/7/2017, M làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Đặng Nguyễn Ngọc L.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 156/2017/TgT ngày 16/8/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thành M do thương tích gây nên hiện tại là 43%.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại Cáo trạng số 59/QĐ-KSĐT ngày 03 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, người bị hại trình bày đã nhận của gia đình bị cáo số tiền bồi thường về chi phí điều trị là 18.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền mất thu nhập là 36.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu bồi thường thêm khoản chi phí nào khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà M không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 18.000.000 đồng đã bồi thường thay cho bị hại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng khoản 3 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

- Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng và áp dụng Điều 590 của Bộ luật Dân sự ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 36.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày thống nhất quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội, về tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Xin Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo mà cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/7/2017, tại quán của anh T thuộc Ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh, do mâu thuẫn nhỏ nhặt, Đặng Nguyễn Ngọc L có hành vi dùng 01 cây dao dài 23 cm là hung khí nguy hiểm đâm 01 cái trúng vào vùng bụng và trong lúc giằng co với bị hại thì mũi dao đâm trúng 01 cái vào vùng cổ của anh Lê Thành M gây thương tích với tỷ lệ thương tật 43%. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với thương tích trên người bị hại. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L phạm tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét thấy Viện kiểm sát truy tố bị cáo tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, vì bị cáo sử dụng dao để gây thương tích cho bị hại chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt. Do tỉ lệ thương tích của bị hại là 43% và với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” nên bị cáo L phạm tội theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Xét mức đề nghị xử phạt hình phạt tù của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây đau đớn cho người bị hại, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại là 18.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiện tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. So sánh khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 05 đến 15 năm thì khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 đến 10 năm tù là nhẹ hơn nên cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 07 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Đối với hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền của Lê Thành M, Đặng Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thanh B và Ngô Phước A chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Trảng Bàng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Một con dao Thái Lan dài 23 cm có cán bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 12 cm là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Một áo thun màu xanh ngắn tay mặt trước áo có dính nhiều vết màu nâu đỏ, đa khô không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền mất thu nhập là 36.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu bồi thường thêm khoản chi phí nào khác. Bị cáo đồng ý bồi thương nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bà M không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 18.000.000 đồng đã bồi thường thay cho bị hại nên ghi nhận.

[8] Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo có nghĩa vụ trả cho bị hại 36.000.000 đồng nên bị cáo chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.800.000 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 3 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: Một con dao Thái Lan dài 23 cm có cán bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 12 cm; một áo thun màu xanh ngắn tay mặt trước áo có dính nhiều vết màu nâu đỏ, đa khô.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L đồng ý bồi thường anh Lê Thành M số tiền 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng.

Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng đã bồi thường thay cho bị hại.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật sân sự 2015.

4. Án phí: Bị cáo Đặng Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và  1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


123
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về