Bản án 55/2019/HS-ST ngày 22/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 55/2019/HS-ST NGÀY 22/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn Q, sinh năm 1988 Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12.

Họ và tên bố: Lý Văn H, sinh năm 1959 (đã chết). Họ và tên mẹ: Chu Thị M, sinh năm 1959.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Nhân thân: Bản án số 160/2011/HSPT ngày 07/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2013, chấp hành xong tiền án phí HSST ngày 20/12/2011.

Tin án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1949. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Chu Đình T, sinh năm 1973. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã G, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 10 giờ 45 phút, ngày 18/12/2018 tại ngõ cụt đối diện với ngõ X, đường D, phường LL, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an phường T, thành phố B bắt quả tang Lý Văn Q, sinh năm 1988 ở Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nilon màu hồng, bên trong đựng 01 gói giấy bạc có chứa chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine, thu giữ trên mái nhà của một gia đình trong ngõ cụt đường D do Q ném từ tay phải lên.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1209 có số IMEI là 358273/03/495179/9.

- Số tiền 40.000 đồng.

Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng nghi ma tuý vào 01 phong bì thư, đưa Lý Văn Q về Công an phường LL, thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, bàn giao Q cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết.

Ti Kết luận giám định số 1709/KL- KTHS ngày 20/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có mặt ngoài mầu trắng bạc, mặt trong mầu trắng, được gói bên ngoài bằng nilon mầu hồng là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,170 gam.

Quá trình điều tra, Lý Văn Q khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2018, Q từ nhà đi nhờ xe của người đi đường xuống khu vực ngã tư thị trấn K, huyện L1, tỉnh Bắc Giang. Sau đó Q đi xe ô tô khách từ ngã tư thị trấn K, huyện L1xuống khu vực gầm cầu vượt gần siêu thị BigC ở thành phố B mục đích mua ma túy để sử dụng. Q đi bộ vào ngõ X, đường D, phường T, thành phố B. Tại đây, Q gặp và mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết. Q cầm gói ma túy mua được ở tay phải rồi đi ra đầu ngõ X, đường D thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện kiểm tra. Quân cầm gói ma túy bỏ chạy vào một ngõ cụt, đối diện với ngõ X, đường D thì bị lực lượng Công an đuổi kịp. Do sợ hãi nên Q đã ném gói ma túy đang cầm ở tay phải lên mái nhà của một gia đình trong ngõ cụt, đường D nhưng vẫn bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1209 có số IMEI là 358273/03/495179/9 và số tiền 40.000 đồng được nhập kho vật chứng để xử lý.

Ti Bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 22 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lý Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai và vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn Q từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 18/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định;

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1209 có số IMEI là 358273/03/495179/9 và số tiền 40.000 đồng.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Ông Hoàng Trọng N trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Bị cáo sinh ra trong gia đình dân tộc thiểu số (Nùng) sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt; đề nghị miễn tiền phạt và tiền án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 45 phút, ngày 18/12/2018 tại ngõ cụt đối diện với ngõ X, đường D, phường LL, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Công an phường T, thành phố B bắt quả tang Lý Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam chất ma túy Heroine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Vin kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]- Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý phạm tội. Do đó, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5]- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6]- Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng, rèn luyện nay lại phạm tội do cố ý. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo.

[7]- Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có điều kiện kinh tế để nộp phạt nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8]- Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai mua của một người không quen biết nên không đủ căn cứ xác minh xử lý. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9]- Về vật chứng của vụ án:

- 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1209 có số IMEI là 358273/03/495179/9 và số tiền 40.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo

[10]- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

[11]- Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điu 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2018.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định;

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1209 có số IMEI là 358273/03/495179/9 và số tiền 40.000 đồng.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2019/HS-ST ngày 22/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:55/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về