Bản án 54/2017/DS-ST ngày 13/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 54/2017/DS-ST NGÀY 13/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 13 tháng 9  năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 166/2017/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2017/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng A; địa chỉ:  Số 89 LH, phường LH, Quận ĐĐ, Thành phố HN. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh: 165-169 HN, phường NTB, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Hiền Q, chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý. Trung tâm Thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng (theo văn bản ủy quyền số 16/2016/UQ-CT ngày 10/8/2016).

Ông Lê Hiền Q uỷ quyền lại cho ông Đinh Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 225C/6C, khu phố ĐT, phường TĐH, thị xã DA, tỉnh Bình Dương (theo văn bản uỷ quyền số 20/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 10/5/2017); có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên N, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 190, tổ 3, khu phố TH, phường TH, thị xã AB, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 19/01/2015, Ngân hàng A và ông Nguyễn Thiên N có ký hợp đồng tín dụng số 20150119-104058-0001, theo hợp đồng thì Ngân hàng A cho ông N vay số tiền 21.735.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 5,67%/tháng. Tính cả lãi và gốc thì tổng số tiền ông N phải trả nợ là 30.541.000 đồng, phương thức trả nợ hàng tháng ông N phải trả số tiền là 2.546.000 đồng và tháng cuối cùng trả 2.535.000 đồng. Ngày bắt đầu trả nợ hàng kỳ từ ngày 19/02/2015.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N thanh toán cho Ngân hàng A được số tiền 15.276.000 đồng. Ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo cam kết. Do vậy, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ là 15.265.000 đồng, trong đó nợ gốc là 10.921.000 đồng, nợ lãi là 4.344.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền lãi, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ gốc là 10.921.000 đồng. Chứng cứ Ngân hàng A xuất trình là đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150119-104058-0001 ngày 19/01/2015.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 12/7/2017 bị đơn ông Nguyễn Thiên N trình bày: Ông Nguyễn Thiên N thống nhất có ký hợp đồng tín dụng số 20150119-104058-0001 ngày 19/01/2015, thống nhất về số tiền vay, nội dung hợp đồng, tổng số tiền phải trả nợ, phương thức trả nợ. Ông N thừa nhận đã thanh toán cho Ngân hàng A số tiền là 15.276.000 đồng, từ ngày 27/12/2016 đến nay do điều kiện khó khăn nên ông N không thanh toán theo thoả thuận. Trước yêu cầu của Ngân hàng A, ông N đồng ý thanh toán cho Ngân hàng A số tiền còn nợ là 15.265.000 đồng. Do điều kiện khó khăn nên ông N yêu cầu được thanh toán dần số tiền trên mà không thể thanh toán một lần theo yêu cầu của Ngân hàng A. Ông N có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông Ngọc.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu:

- Về việc thực hiện quá trình tố tụng như sau: Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án và còn trong thời hạn giải quyết. Về việc tuân theo pháp luật thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định.

- Về nội dung: Căn cứ vào giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150119-104058-0001 ngày 19/01/2015 được ký kết giữa Ngân hàng A và ông Nguyễn Thiên N thể hiện bị đơn có vay tiền của nguyên đơn, bị đơn thừa nhận các chứng cứ do nguyên đơn trình bày và thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 15.276.000 đồng. Tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút phần yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần này. Đối với yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ gốc là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Thiên N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút lại phần yêu cầu lãi, không yêu cầu bị đơn trả lãi với số tiền 4.344.000 đồng. Xét thấy, đây là ý chí định đoạt của đương sự, phù hợp theo quy định tại Điều 243, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu tiền lãi.

[3] Về nội dung: Hợp đồng tín dụng số 20131028-104007-0012 ngày 19/01/2015 được ký kết giữa Ngân hàng A và ông Nguyễn Thiên N là hợp pháp. Ông Nguyễn Thiên N thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và ông N còn nợ Ngân hàng A số tiền nợ gốc 10.921.000 đồng, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông N phải thanh toán số tiền nợ gốc 10.921.000 đồng, là có cơ sở chấp nhận.

[4] Ông Nguyễn Thiên N yêu cầu được thanh toán dần số tiền còn nợ vì hoàn cảnh khó khăn nhưng nguyên đơn không đồng ý cho bị đơn thanh toán dần. Do vậy không có căn cứ chấp nhận đề nghị của ông N là thanh toán dần số tiền còn nợ cho Ngân hàng A.

[5] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về án phí: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ  Điều 26; Điều 35; Điều 92; Điều 147, Điều 228, Điều 243, Điều 244, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng:

- Điều 91, Điều 92 Luật Các tổ chức tín dụng;

- Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN, ngày 03/2/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối vơi khách hàng;

- Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN, ngày 31/5/2005, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN, ngày 03/2/2005;

- Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Buộc ông Nguyễn Thiên N phải thanh toán cho Ngân hàng A số tiền còn nợ 10.921.000 (mười triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Nguyễn Thiên N về việc yêu cầu ông Nguyễn Thiên Ngọc thanh toán số tiền lãi là 4.344.000 đồng.

2. Án phí sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Thiên N phải chịu 546.050 (năm trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm năm mươi) đồng.

- Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền  380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0013016 ngày 14/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về