Bản án 515/2020/HS-ST ngày 15/12/2020 về tội vi phạm quy định điều khiển giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 515/2020/HS-ST NGÀY 15/12/2020 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 15 tháng 12 năm 2020 tại Hội truờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 485/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 525/2020/QĐXXST-HS ngày 03/12/2020 đối với bị cáo:

Sơn Út B, sinh năm 1987 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp B, xã K, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: số 269/18 đường N, khu phố B, phường B, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe honda chở khách; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Khơ me; con ông Sơn M (đã chết) và bà Lê Thị Th, sinh năm 1945; bị cáo có 07 anh chị em, lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất là bị cáo; bị cáo có vợ tên Thạch Thị Oanh N, sinh năm 1984, bị cáo có 03 con: lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh ngày 15/10/2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/8/2020, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Sơn Út B: Ông Trần Thanh A, sinh năm 1982 - là Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị Hồng Nh, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện ĐắkPơ, tỉnh Gia Lai, (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Đ: Anh Trần Quang L, sinh năm 1984; địa chỉ: số 44A đường Đ, khu phố A, phường T, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị Phương Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A Lê Trung Đình, phường S, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1990. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 05/6/2020, Sơn Út B điều khiển xe mô tô biển số 83C1-526.80, chở chị Trần Thị Hồng Nh lưu thông trên đường số 6 Khu công nghiệp (KCN) Sóng Thần 2 hướng từ Đại lộ Thống Nhất về đường 21. Khi đến trước trung tâm sát hạch Lái xe Sóng Thần, đường số 6, KCN Sóng Thần 2, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì Sơn Út B điều khiển xe quay đầu lại, cùng lúc đó có Trần Văn Th điều khiển xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 lưu thông theo hướng cùng chiều chạy từ phía sau tới, bánh trước xe mô tô do Th điều khiển đụng vào hông trái xe mô tô do Sơn Út B điều khiển dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: hai xe mô tô ngã nghiêng, bên hông phải văng về hướng đường số 21; Sơn Út B và Trần Văn Th bị xây xát nhẹ, chị Trần Thị Hồng Nh tử vong tại Bệnh viện 175.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường được thể hiện như sau:

Hiện trường đoạn đường xảy ra tai nạn: Đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa bằng phẳng, giữa đường có vạch sơn vàng đứt quãng chia hai phần đường xe chạy, mỗi phần đường rộng 6m80.

Lấy trụ điện bê tông số 10 (ký hiệu 6) làm điểm mốc và mép lề đường bên phải theo hướng Đại lộ Thống Nhất đi về hướng đường số 21 làm mép lề chuẩn:

- Xe mô tô biển số 59D2-880.42 (kí hiệu 1): Xe ngã đổ sang bên hông phải, đầu xe quay xéo về hướng Đại lộ Thống Nhất, trục bánh trước cách lề chuẩn 4m60, trục bánh sau cách lề chuẩn 4m50. Xe ngã có để lại một vết cày cách lề chuẩn 4m90.

- Xe mô tô biển số 83C1-526.80 (kí hiệu 3): Sau tai nạn xe ngã đổ sang bên hông phải, đầu xe quay xéo về hướng Đại lộ Thống Nhất, trục bánh trước cách lề chuẩn 7m80, trục bánh sau cách lề chuẩn 8m50. Xe ngã còn để lại một vết cày cách lề chuẩn 7m00.

- Hiện trường để lại một vết máu của nạn nhân Trần Thị Hồng Nh (kí hiệu 5) cách lề chuẩn 9m00 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 83C1-526.80 là 1m90.

- Trục bánh xe mô tô kí hiệu 1 cách trục bánh sau xe mô tô kí hiệu 3 là 4m40.

- Trục bánh xe mô tô kí hiệu 3 cách điểm mốc kí hiệu 6 là 14m20.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đối với xe mô tô biển số 83C1-526.80 vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 17/6/2020:

- Đầu tay cầm bên phải bị mài mòn, đầu tay thắng bên phải bị mài mòn và gãy 2cm; cánh bửng bên phải bị mài mòn kích thước 15x3cm; đầu gác chân trước bên phải bị mài mòn; ốp ngoài ống xả bị mài mòn kích thước 45x7cm; mặt ngoài của cây gấp sạc bên trái bị trầy bong sơn, khuyết lãm và rách kim loại kích thước 30x6cm; mặt ngoài hộp xích bị trầy xước sạch bụi kích thước 30x5cm; đầu bên phải của cây chống đứng bị trầy xước và cong hướng từ sau ra trước; gác chân sau bên trái bị cong hướng từ sau ra trước.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đối với xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/6/2020:

Mặt bên phải lốp và vành bánh trước có vết trầy xước cao su và kim loại kích thước 25x4cm, có chiều ngược chiều quay tiến; mặt ngoài đầu phải trục bánh trước và đầu dưới phuộc trước bên phải có vết trượt xước sạch bụi, bám dính màu đen có kích thước 5,5x4cm, cao từ 26-30cm, có chiều từ trước về sau; hai phuộc trước bị cong gụp xuống từ trước ra sau, từ trái sang phải; đầu tay cần bên phải bị mài mòn; mặt ngoài ống xả bị mài mòn kích thước 8x4cm.

Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 428/GĐPY ngày 08/6/2020 của Phòng kỹ thuận Hình sự - Công an tỉnh Bình Dương: Nguyên nhân gây tử vong của chị Trần Thị Hồng Nh do chấn thương sọ não.

Theo Bản kết luận giám định số 88/GĐCH-PC09 ngày 22/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương:

1. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 và xe mô tô biển số 83C1 - 526.80 là:

- Dấu vết trượt xước cao su mặt phải lốp và mài mòn kim loại cạnh phải vành bánh trước có chiều chuyển động quay tiến của bánh xe, vết trượt xước kim loại ở mặt ngoài đầu dưới phuộc trước bên phải và trượt bán dính màng màu đen ở đầu phải trục trước xe mô tô biển số 59D2 - 880.42, có chiều từ trước về sau phù hợp với các dấu vết trượt xước mất sơn màu xám bám màng màu đen, hằn rách kim loại ở mặt ngoài thanh gấp sau bên trái và chân chống đứng bên trái xe mô tô biển số 83C1 - 526.80, có hướng từ sau về trước.

- Vết trượt xước sơn màu xanh ở cạnh phải mũi vè chắn bùn trước xe mô tô biển số 59D2 - 880.42, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở cạnh dưới khung gác chân sau bên trái xe mô tô biển số 83C1 - 526.80, có chiều từ sau về trước.

2. Cơ chế hành thành dấu vết va chạm giữa hai xe trên là: mặt trước và bên phải bánh xe trước xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 va chạm vào phía sau hông trái xe mô tô biển số 83C1 - 526.80 (như mục 1 phần V), làm hai xe đổ ngã sang phải, trượt trên mặt đường.

3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 và xe mô tô biển số 83C1 - 526.80 chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước đầu vết cày kí hiệu số 4 thuộc phần đường bên phải đường số 6 hướng từ Đại lộ Thống Nhất về đường số 21 (như trên sơ đồ hiện truờng).

Theo Bản kết luận giám định số 4861/C09B ngày 21/9/2020 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Viện khoa học hình sự, kết luận: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 830 - 526.80 và xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Kết quả đo nồng độ cồn của Trần Văn Th là 0.369 miligam/1 lít khí thở.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 là tài sản của chị Trần Thị Phương Th, sinh năm 1988, trú tại: 166/11/9 Lê Trung Đình, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Chị Thúy đã ủy quyền cho Trần Văn Th nhận lại xe mô tô trên. Ngày 04/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 cho anh Th.

- Xe mô tô biển số 83C1 - 526.80. Ngày 04/8/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho Sơn Út B.

- 01 Bản chính Bằng lái xe mô tô hạng A1 của Sơn Út B.

Tại cáo trạng số 513/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Sơn Út B về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Sơn Út B mức án từ 16 (mười sáu) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32(ba hai) tháng đến 36 (ba sáu) tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Sơn Út B và anh Trần Văn Th đã hỗ trợ chi phí mai táng phí cho gia đình chị Trần Thị Hồng Nh số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Tại phiên tòa anh Trần Quang L là người đại diện cho gia đình chị Trần Thị Hồng Nh không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác và có đơn xin bãi nại cho bị cáo Sơn Út B.

Luật sư bào chữa cho bị cáo:

Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo và thống nhất với hình phạt đại diện VKS đề nghị đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo về chăm sóc cha mẹ già, nuôi con nhỏ và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Bị cáo Sơn Út B, người đại diện cho bị hại là anh L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không tranh luận, không đối đáp; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/6/2020, bị cáo Sơn Út B đang điều khiển xe mô tô biển số 83C1-526.80 chở bị hại Trần Thị Hồng Nh từ hướng Đại lộ Thống Nhất đi về hướng đường số 21, khi điều khiển xe quay đầu lại do thiếu chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 59D2-880.42 do anh Trần Văn Th điều khiển đang đi cùng chiều với xe của Sơn Út B. Hậu quả làm chị Trần Thị Hồng Nh bị tử vong do chấn thương sọ não, hai xe bị hư hỏng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, kết luận giám định trên các phương tiện... Như vậy, hành vi của bị cáo Sơn Út B vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008 là lỗi chính gây ra tai nạn giao thông nên hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 513/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ. Hiện nay tình hình xảy ra tai nạn giao thông rất nghiêm trọng do hành vi không chấp hành Luật giao thông đường bộ trong khi điều khiển phương tiện giao thông, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại một phần chi phí mai táng để khắc phục hậu quả, đại diện của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện: bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự đồng thời bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, gia đình thuộc hộ nghèo và bị cáo là lao động chính trong gia đình nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Mặc dù tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng nhưng như đã phân tích tại mục [5], [6] thì việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tính chất răn đe và phòng ngừa chung. Do áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo nên cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 354 ngày 04 tháng 8 năm 2020 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Sơn Út B.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 59D2 - 880.42 là tài sản của chị Trần Thị Phương Th và xe mô tô biển số 83C1 - 526.80 là tài sản của bị cáo Sơn Út B, cơ quan Điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho chị Thúy và bị cáo Sơn Út B là đúng quy định pháp luật.

- Quá trình điều tra thu giữ giấy phép lái xe hạng A1 của bị cáo Sơn Út B. Do không áp dụng việc cấm bị cáo hành nghề, vì vậy Hội đồng xét xử tuyên trả giấy phép lái xe cho bị cáo là phù hợp.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

[10] Từ các phân tích trên nhận thấy lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[10] Đối với hành vi tham gia giao thông mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt mức quy định của anh Trần Văn Th là vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt số 215/QĐ-XPHC ngày 02/10/2020.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn Th và bị cáo Sơn Út B đã hỗ trợ cho gia đình bị hại 20.000.000 (hai mươi triệu đồng), mỗi người hỗ trợ 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện của bị hại là anh Trần Quang L không có ý kiến yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Sơn Út B phạm tội vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

- Xử phạt bị cáo Sơn Út B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Sơn Út B cho Ủy ban nhân dân phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Sơn Út B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi Hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 89, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho bị cáo Sơn Út B 01 (một) bản chính giấy phép lái xe hạng A1 số 790184003646 do Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/01/2018.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Sơn Út B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


26
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về