Bản án 48/2018/HS-ST ngày 26/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 48/2018/HS-ST NGÀY 17/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/QĐXXST-HS ngày 04 Tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Châu Thanh Đ, sinh năm: 1992, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: C59 tổ 15, Khu phố 1, phuờng Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa:không biết chữ; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Dương Minh H và bà Châu Thị Tuyết N; Chưa có vợ;

Tiền sự: Không; tiền án: 02; Tại bản án số: 141/HSST ngày 29/6/2012 TAND Quận 12 xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 55/HSST ngày 27/3/2015 TAND huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/9/2016 Châu Thanh Đ thực hiện hành vi Cướp giật tài sản. Tại bản án số 38/HSST ngày 19/4/2017 TAND huyện Hóc Môn xử phạt 05 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”.

Trích xuất về tạm giam tại Công an quận Gò Vấp từ ngày: 17/01/2018;(Có mặt).

Bị hại: - Phan Văn C, sinh năm: 1993; trú tại: Số 80 C, xã E, Huyện K, Tỉnh L; Chổ ở: số 32 S, Phường 5, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Ông Lương Ngọc Quý, sinh năm: 1983; HKTT: Số 47/4 Khu phố 5 T Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Phan Văn C và Châu Thanh Đ cùng làm thuê tại quán ốc địa chỉ 29 L, Phường 7, Quận G. Khoảng 00h ngày 01.5.2016, sau khi làm việc xong anh C ngủ lại quán ốc và có để 01 máy tính xách tay hiệu Sony Vaio trên bàn. Lúc này, Đ thấy anh C ngủ và có để 01 máy tính xách tay trên bàn nên lén lút lấy trộm. Khoảng 07h cùng ngày, anh C thức dậy phát hiện mất trộm chiếc máy tính. Qua kiểm tra Camera phát hiện Đ là ngưòi lấy trộm nên đến Công an Phường 7, quận G trình báo.

Riêng Đ sau khi lấy trộm máy tính của anh C, đến 09h cùng ngày đem chiếc máy tính của anh C đến tiệm cầm đồ Q tại 17E, Quán Tre, phường Ty, Quận H do anh Lương Ngọc Q làm chủ cầm bới giá 800.000 đồng và nhờ người khác (không rõ lai lịch) mang giấy cầm đồ lại đưa cho anh C rồi bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 244/KL ngày 15.11.2016 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng UBND Quận Gò Vấp kết luận: máy tính xách tay hiệu Sony Vaio màu trắng, đã qua sử dụng, theo giá thị trường ngày 01.5.2016 là 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả chiếc máy tính trên cho anh C.

Sau khi gây án bỏ trốn, Châu Thanh Đ đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại Hóc Môn, TAND huyện Hóc Môn đã xử phạt Đoàn 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản.

Tại Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp Châu Thanh Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Lương Ngọc Q khi cầm chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio không biết đây là tài sản do Đòan trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở khởi tố đối với Q.

Tại bản cáo trạng số 48/CTr-VKS, ngày 13/03/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Châu Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử, căn cứ vào Nghị Quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018, do hành vi của bị cáo thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2018 nên Viện kiểm sát sẽ áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 để truy tố đối với bị cáo.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm c khỏan 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực thi hành;

- Xử phạt bị cáo Châu Thanh Đ từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù. Buộc bị cáo tiếp tục chấp hành hình phạt 05 năm tù của bản án số 38/2017/HSST, ngày 19/4/2017của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Châu Thanh Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Thực hiện theo tinh thần của Nghị Quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, do hành vi của bị cáo thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2018 nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Châu Thanh Đòan đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3] Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, xét nhân thân bị cáo xấu đã có 02 lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật và lần này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung được quy định tại điểm c khỏan 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngoài ra trong lúc bỏ trốn bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi cướp giật tài sản và đang chấp hành án hình phạt 05 năm tù của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác. Hội đồng xét xử xét thấy hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt 05 năm tù của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (bản án số 38/2017/HSST, ngày 19/4/2017) do đó khi lượng hình cần thiết áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 1999 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 138 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Phan Văn C vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối với số tiền 800.000 đồng anh Lương Ngọc Q cầm nhầm tài sản của Châu Thanh Đòan không yêu cầu bị cáo trả lại, Hội đồng xét thấy đây là ý chí tự nguyện không trái pháp luật nên ghi nhận.

Đối với số tiền 800.000 đồng bị cáo đã cầm tài sản của anh C bị cáo đã tiêu xài hết, là tiền thu lợi bất chính Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio màu trắng cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phan Văn C. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với anh Lương Ngọc Q khi cầm tài sản của Châu Thanh Đ không biết đây là tài sản mà Đ trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Châu Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khỏan 1 Điều 51; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Châu Thanh Đ 02 (hai) năm tù. Buộc bị cáo tiếp tục chấp hành  hình  phạt 05 (năm) năm tù của bản án số 38/2017/HSST, ngày 19/4/2017của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành 07 (bảy) năm tù.Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/9/2016.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung 2009; khỏan 1 điểm b khỏan 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 800.000 (Tám trăm ngàn) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


76
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về