Bản án 44/2018/DS-ST ngày 01/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 44/2018/DS-ST NGÀY 01/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 01tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 390/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Trụ sở tại: Lầu 8, 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường T, Quận B, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc Ngân hàng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng C - Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh BT (Theo văn bản ủy quyền số 2384/2017/GUQ- PL&TT ngày 07/8/2017 của Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S)

Ông Nguyễn Hoàng C ủy quyền cho ông Nguyễn Bảo Th - Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh BT tham gia tố tụng (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/3/2018).

2. Bị đơn: Bà Hồ Thị Thanh V, sinh năm 1987, Trú tại: 06 Lê Lai, Phường H, thành phố B, tỉnh BT. (Bà V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/11/2017; bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là ông Đặng Minh T trình bày.

Bà Hồ Thị Thanh V có vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT theo hình thức như sau:

+ Thẻ tín dụng nội địa Family số thẻ 970403-9574 được cấp hạn mức là 30.000.000đ (Ba chục triệu đồng), mục đích vay là tiêu dùng, lãi suất 2,5%/tháng, dư nợ thẻ tính đến ngày 31/5/2018 là 27.322.579đ (Hai mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi hai ngàn, năm trăm bảy mươi chín) đồng, trong đó: vốn gốc 15.264.019đ (Mười lăm triệu, hai trăm sáu mươi bốn ngàn, không trăm mười chín) đồng, lãi trong hạn 8.039.040đ (Tám triệu, không trăm ba mươi chín ngàn, không trăm bốn chục) đồng, Lãi quá hạn 4.019.520đ (Bốn triệu, không trăm mười chín ngàn, năm trăm hai chục) đồng.

+ Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa classic số thẻ 472074-6399 được cấp hạn mức là 30.000.000đ (Ba chục triệu) đồng,mục đích vay là tiêu dùng, lãi suất 2,5%/tháng, dư nợ thẻ tính đến ngày 31/5/2018 là 28.976.714đ (Hai mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi sáu ngàn, bảy trăm mười bốn) đồng, trong đó: vốn gốc 17.199.221đ (Mười bảy triệu, một trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm hai mươi mốt) đồng, lãi trong hạn 7.851.662đ (Bảy triệu, tám trăm năm mươi mốt, sáu trăm sáu mươi hai) đồng, lãi quá hạn 3.925.831đ (Ba triệu, chín trăm hai mươi lăm ngàn, tám trăm ba mươi mốt) đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của bà Hồ Thị Thanh V đối với Thẻ tín dụng nội địa Family đã bị quá hạn từ ngày 05/10/2016 và Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa classic đã bị quá hạn từ ngày 30/9/2016 và tính đến ngày 31/5/2018 với tổng số dư nợ quá hạn đối với hai thẻ tín dụng là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng.

Kể từ đó đến nay thì bà V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy, bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nay Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà V trả toàn bộ số tiền nợ vay và lãi tính đến ngày 31/5/2018 là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ và yêu cầu tính lãi tiếp tục theo hợp đồng tín dụng, kể từ ngày từ ngày 01/6/2018 đến khi bà Hồ Thị Thanh V trả tất nợ cho Ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời bà V đến để tiến hành hòa giải nhưng bà V vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng:

+ Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

+ Bị đơn không tham gia mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa theo thông báo hợp lệ của Tòa án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Do chị V thiếu tiền của Ngân hàng nhưng chị không trả tiền cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005, bên vay tài sản là tiền phải trả đủ khi đến hạn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị V trả số tiền nợ gốc của hai thẻ tín dụng là 56.299.293 đ (gồm nợ gốc 32.463.240 đ, lãi trong hạn 15.890.702 đ, lãi quá hạn 7.945.351 đ) và lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 31/5/2018 đến khi chị V trả xong nợ là có cơ sở.

Đề nghị áp dụng: Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 471, Điều 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005, Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S, buộc chị Hồ Thị Thanh V trả cho Ngân hàng S số tiền 56.299.293 đ (gồm nợ gốc 32.463.240 đ, lãi trong hạn 15.890.702 đ, lãi quá hạn 7.945.351 đ) và lãi suất theo hợp đồng từ ngày 31/5/2018 đến khi chị V trả xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện bà Hồ Thị Thanh V phải trả cho Ngân hàng về khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng với số tiền là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ và yêu cầu tính lãi tiếp tục theo hợp đồng tín dụng, kể từ ngày từ ngày 01/6/2018 đến khi bà Hồ Thị Thanh V trả tất nợ cho Ngân hàng. Vì vậy quan hệ pháp luật vụ án này là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đến Bà V và nhiều lần mời bà V đến tòa để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà V vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải được đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà V vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Tòa, ông Nguyễn Bảo Th là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày do bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà V phải trả toàn bộ số tiền nợ vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 31/5/2018 là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ và yêu cầu tính lãi tiếp tục theo hợp đồng tín dụng, kể từ ngày từ ngày 01/6/2018 đến khi bà Hồ Thị Thanh V trả tất nợ cho Ngân hàng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng của bà Hồ Thị Thanh V đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT phê duyệt ngày 12/5/2015, Tờ trình cấp thẻ tín dụng tín chấp và phần xác nhận của Hồ Thị Thanh V ngày 10/6/2015, Thông báo khoản vay quá hạn ngày 27/9/2017,16/10/2017 và 01/11/2017 của Ngân hàng đối với bà V, Bảng tóm tắt sao kê Hồ Thị Thanh V 970403-9574 ngày 31/5/2018 với số tiền nợ vay là 27.322.579đ và Bảng tóm tắt sao kê Hồ Thị Thanh V 472074-6399 ngày 31/5/2018 với số tiền nợ vay là 28.976.714 đ của Ngân hàng là chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ và hợp pháp.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của Bà V đối với Thẻ tín dụng nội địa Family và Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa classic tính đến ngày 31/5/2018 với tổng số dư nợ đối với hai thẻ tín dụng là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ nhưng Bà V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng là vi phạm điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và theo quy định tại điều 351 Bộ luật Dân sự.

Như vậy, có cơ sở xác định bà Hồ Thị Thanh V đã vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà V trả tiền nợ vay cho Ngân hàng là có căn cứ nên chấp nhận.

Buộc bà V có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT nhận thay) với tổng số tiền tính đến ngày 31/5/2018 là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ và yêu cầu tính lãi tiếp tục theo hợp đồng tín dụng, kể từ ngày từ ngày 01/6/2018 đến khi bà Hồ Thị Thanh V trả tất nợ cho Ngân hàng.

[3 ] Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà V phải chịu là 56.299.293 đ x 5% = 2.814.965 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại 1.239.300đ (Một triệu, hai trăm ba mươi chín ngàn, ba trăm ) đồng về khoản tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT nhận thay)theo biên lai thu số 0014052, ngày 15/12/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 688, 351, 352 Bộ luật dân sự 2015, Điều 471, 474 Bộ luật dân sự 2005,;Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bị đơn bà Hồ Thị Thanh V, về việc Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Hồ Thị Thanh V có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT nhận thay) với tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 31/5/2018 là 56.299.293 đ (Năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm chín mươi ba) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 32.463.240 đồng, tiền nợ lãi trong hạn của 02 thẻ tín dụng 15.890.702đ, tiền nợ lãi quá hạn của 02 thẻ tín dụng là 7.945.351đ.

Bà Hồ Thị Thanh V còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S với bà Hồ Thị Thanh V, kể từ ngày 01/6/2018 cho đến khi bà Hồ Thị Thanh V trả tất nợ cho Ngân hàng.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.814.965 đồng (Hai triệu, tám trăm mười bốn ngàn, chín trăm sáu mươi lăm) đồng bà Hồ Thị Thanh V phải chịu.

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại 1.239.300đ (Một triệu, hai trăm ba mươi chín ngàn, ba trăm ) đồng về khoản tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại cổ phần S Chi nhánh BT nhận thay)theo biên lai thu số 0014052, ngày 15/12/2017.

Trong hạn 15 ngày,kể từ ngày tuyên án Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với bà Hồ Thị Thanh V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


93
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2018/DS-ST ngày 01/06/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:44/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về