Bản án 37/2019/HS-ST ngày 24/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 37/2019/HS-ST NGÀY 24/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 05 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1986 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Số 25, khu tập thể B, tổ 7, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị V; có vợ là Nguyễn Thị T; có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt từ ngày 22/01/2019 đến ngày 29/01/2019 chuyển tạm giam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/01/2019, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 16N8-8281 đi sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng . Mua được ma túy, T để túi ma túy vào ví giả da và cất giấu ở túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn 2, xã T, huyện Thủy Nguyên thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 46/KLGĐ (Đ6) ngày 24/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng thu của Nguyễn Văn T là ma túy, có khối lượng 0,2038 gam, là loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 29 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đi với đối tượng bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở điều tra.

Đi với chiếc xe mô tô BKS 16N8-8281, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 24 – 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví giả da màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 02 ống nhựa dài 10cm, 01 vỏ bao thuốc lá vinataba đã qua sử dụng.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/01/2019, T điều khiển xe mô tô BKS 16N8-8281 đi sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết biết 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, T để túi ma túy vào ví giả da và cất giấu ở túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về đến khu vực thôn 2, xã T, huyện T thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Bị cáo T nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy qua giám định là 0,2038 gam. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, ông nội bị cáo là liệt sỹ. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo để xem xét khi quyết định hình phạt.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức của con người, là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện tuy nhiên loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng: Áp dụng điều 47 bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 nỏ thủy tinh; 02 ống nhựa dài 10cm, 01 vỏ bao thuốc lá vinataba đã qua sử dụng.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T: 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2019.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 46/2019/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 ví giả da màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 02 ống nhựa dài 10cm, 01 vỏ bao thuốc lá vinataba đã qua sử dụng.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng)

* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. .

* Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


79
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HS-ST ngày 24/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về