Bản án 37/2019/HSST ngày 16/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 37/2019/HSST NGÀY 16/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2019/TLST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 26/7/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/HSST-QĐ ngày 09/8/2019, đối với bị cáo:

Trần Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:16/12/1989, tại xã B, huyện V, tỉnh T; Nơi cư trú: thôn B1, xã xã B, huyện V, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Trần Văn K, sinh năm 1959; Họ tên mẹ: Trần Thị Kh, sinh năm 1962; Đều cư trú tại thôn B1, xã xã B, huyện V, tỉnh T; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2009 đi nghĩa vụ quân sự đến năm 2011 xuất ngũ trở về địa phương. Bị cáo bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 18/6/2019 theo Quyết định số 06-QĐ/UBKT ngày 18/6/2019 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy huyện V. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/6/2019 đến ngày 08/6/2019 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh T (Có mặt)

* Người làm chứng:

- Anh Tô Văn Q1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: tổ A, thị trấn V1, huyện V, tỉnh T (Vắng mặt).

- Anh Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1996; Nơi cư trú: thôn X, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh T (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 14 giờ 30 phút ngày 02/6/2019, Trần Văn Q mang theo 230.000 đồng rồi đi bộ từ nhà ở thôn B1, xã B, huyện V, tỉnh T ra khu vực Cống T1, xã T2, huyện V, tỉnh T rồi xin đi nhờ xe mô tô của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ sang tỉnh N để tìm mua Methamphetamine về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đê Quán C, xã M, huyện M1, tỉnh N, Q gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ đứng ở gầm cầu dân sinh tại khu vực đê Quán C, Q lại gần hỏi “Bán cho em gói hai”, ý hỏi mua Methamphetamine. Người này liền trả lời “Đưa tiền đây”. Q đưa 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), người này nhận tiền và đưa lại cho Q 01 gói nilon màu trắng trong suốt bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Biết đã mua được ma túy, Q không mở ra kiểm tra mà bỏ vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi bắt xe khách về tỉnh T. Q thanh toán tiền xe hết 30.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi về đến khu vực cây xăng thuộc thôn H , xã M2, huyện V, tỉnh T, Q xuống xe và đi bộ sang đường về phía trước Cửa hàng xe máy HT thì bị lực lượng Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái Q đang mặc 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,3866 gam (Không phẩy ba nghìn tám trăm sáu mươi sáu gam).

- Bản kết luận giám định số 199/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật (chất dạng tinh thể màu trắng trong suốt) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3866 gam (Không phẩy ba nghìn tám trăm sáu mươi sáu gam).

- Cáo trạng số 38/CT-VKSVT, ngày 09/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V tỉnh T truy tố đối với bị cáo Trần Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện V vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Văn Q từ 01năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2019.

Kng áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, và bị cáo không có tài sản, không có thu nhập.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Trần Văn Q niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 199/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T (có đặc điểm như biên bản quản lý).

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của người làm chứng là anh Tô Văn Q1, sinh năm 1974, trú tại tổ A, thị trấn V1, huyện V, tỉnh T và anh Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1996, trú tại thôn X, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh T (Bút lục từ số 67 - 74); và còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/6/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V1, huyện V (Bút lục số 06 - 07), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V lập hồi 16 giờ 50 phút ngày 02/6/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V1, huyện V (Bút lục số 08); Kết luận giám định số 199/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T (Bút lục số 15), cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 02/6/2019, tại khu vực trước Cửa hàng xe máy HT, thuộc địa phận thôn H, xã M2, huyện V, tỉnh T, Trần Văn Q có hành vi cất giấu trái phép Methamphetamine có khối lượng 0,3866 gam (Không phẩy ba nghìn tám trăm sáu mươi sáu gam) tại túi áo ngực bên trái Q đang mặc, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma tuý Công an huyện Vũ T tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải cần phải xử lý nghiêm khắc thì mới có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị can có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự theo như quan điểm của Kiểm sát viên đại diện cho VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo Trần Văn Q phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục và cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Trần Văn Q niêm phong trong 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 199/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.

[7] Về nguồn gốc ma túy: Trần Văn Q khai mua của một người đàn ông ở khu vực đê Quán C, xã M1, huyện M, tỉnh N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tỉnh T đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu nên không có đủ căn cứ để xử lý.

[8] Đối với người nam thanh niên cho Q đi nhờ xe, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ của người này ở đâu, nên không có căn cứ xác minh, để xử lý.

[9] Đối với người lái xe khách chở bị cáo từ xã M1, huyện M, tỉnh N về xã M2, huyện V, tỉnh T, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ của người này ở đâu, không nhớ biển số đăng ký xe và bị cáo cũng không nói cho người này biết việc bị cáo cất giấu ma túy trong người nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[10] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 50, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Trần Văn Q 01 năm 09 tháng ( Một năm chín tháng ) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2019.

Kng áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, và bị cáo không có tài sản, không có thu nhập.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu tiêu hủy số ma túy loại Methaphetamine có khối lượng 0,3594 gam (Không phẩy ba nghìn năm trăm chín mươi bốn gam) đã thu giữ của Trần Văn Q niêm phong trong 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 199/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T ( có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V ngày 15/7/2019).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Bị cáo Trần Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


68
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HSST ngày 16/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũ Thư - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về