Bản án 35/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 35/2020/HS-ST NGÀY 25/11/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 25 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2020/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Văn H, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Anh, em ruột: Có 05 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1993; Bị cáo có vợ Trần Thị Mỹ C, sinh năm: 1997; có 02 người con lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Có mặt.

- Bị hại: Trần Văn  (tên gọi khác: N), sinh năm: 1993 Địa chỉ: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1967 Trần Văn Q, sinh năm: 1962 Cùng địa chỉ: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang - Người làm chứng:

1. Trương Thị Đ, sinh năm: 1961 Địa chỉ: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

2. Võ Văn Đ, sinh năm: 1991 Địa chỉ: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

3. Trần Thị B, sinh năm: 1978 Địa chỉ: Ấp LH1 1, xã TP, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

4. Võ Kim Đ, sinh năm: 1991 Địa chỉ: Ấp M, xã LB, thị xã Ngã năm, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 08/9/2020 tại nhà của Trần Văn Q có tổ chức tiệc nhậu gồm có Trần Văn  (là con ruột của ông Q), Trần Văn D và Lê Văn Duy Khánh và một số người quen. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q, Â, K và D đang ngồi nhậu thì Lê Văn H, một mình điều khiển xe môtô, biển số 94F2-7131 đến dựng xe trước sân nhà ông Q rồi đi vào nhậu chung. Trong lúc nhậu H rủ ông Q chơi “đá gà ăn tiền” ông Q không đồng ý nên ông Q và H cự cải qua lại, sau đó thì tất cả nghỉ nhậu Khánh, D, H điều khiển xe mô tô ra về. Khoảng 10 phút sau, H một mình điều khiển xe môtô trên đến dựng trước sân nhà ông Q, khi đó ông Q đang cho gà ăn bên hông nhà, H đi đến chỗ ông Q, H tiếp tục rủ ông Q chơi “đá gà ăn tiền” nhưng ông Q không đồng ý nên H dùng tay không đánh vào vùng đầu của ông Q một cái làm ông Q té ngã xuống nền đất. Thấy vậy, Ân và Trần Văn Chiếc (cháu ngoại ông Q) trong nhà chạy ra can ngăn, H và Ân đánh nhau bằng tay không rồi H bỏ xe lại và đi bộ về hướng nhà H. H đi đến trước sân nhà của Võ Văn Đ, H thấy một cây dao dài khoảng 40 - 50 cm đang để ở sân, H lấy cây dao cầm trên tay rồi đi về hướng nhà ông Q, do sợ H dùng dao chém người khác gây thương tích nên Đ đi theo phía sau để can ngăn. Đến trước nhà ông Q, H cầm dao trên tay giơ lên cao, mũi dao hướng vào nhà ông Q và nói: “bữa nay tao chém chết mẹ mày”, Ân trả lời “ngày mai tỉnh rượu đi, rồi đến nhà xin lỗi cha tôi, rồi lấy xe về”, Đ khuyên H đi về, H cùng Đ đi bộ đến nhà của Đ thì H để lại cây dao trước sân rồi H đi bộ về nhà H. Xe môtô của H vẫn còn dựng trong sân nhà của ông Q nên Ân dẫn xe môtô của H vào trong hàng ba nhà ông Q mục đích để H đến xin lỗi gia đình Ân.Trên đường về nhà, lúc này khoảng 16 giờ cùng ngày H suy nghĩ muốn quay lại nhà ông Q để lấy xe môtô nhưng sợ bị đánh, khi đó H nhìn thấy có một cây dao dài 38cm ở cạnh mé sông trước tiệm tạp hóa của ông Trần Văn Bình, H đi tới chỗ cây dao dài 38cm lấy vắt phía sau lưng quần, mục đích đến nhà Q nếu có người nào không cho lấy xe môtô hoặc đánh H thì H sẽ dùng dao chém lại.

Khi đến nhà ông Q, H đi vào hàng ba đứng gần chiếc xe môtô của H đang dựng, H kêu Chiếc đưa chìa khóa xe cho H, rồi H lấy chìa khóa xe định dẫn xe môtô ra về thì H thấy ông Q đang đứng phía sau đuôi xe môtô, H nghĩ ông Q cản đường không cho H đi nên H dùng tay trái xô ông Q té ngã ngửa ra phía sau đập đầu trúng nền xi măng trước hàng ba gây ra vết thương vùng chẩm. Lúc này, Ân trong nhà chạy ra đánh tay không trúng vào vùng mặt của H 02 cái làm H bị trầy xước da vùng mặt, H tức giận nên khi thấy Ân khom người xuống đỡ ông Q ngồi dậy, H liền dùng tay trái rút cây dao vắt phía sau lưng quần ra chém một cái theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mông bên trái của Ân gây vết thương, Ân đứng dậy thì H tiếp tục chém một cái theo hướng từ trái sang phải trúng vào vùng lưng của Ân nhưng do chém bằng bề sống dao nên chỉ gây sây sát da vùng lưng bên phải; Ân đứng dậy đối diện với H thì bị H tiếp tục chém một cái theo hướng từ trái sang phải trúng vào mi mắt trái của Ân gây rách da kích thước 01cm. Sau đó, Ân chạy vào trong nhà ông Q lấy một cây búa (loại búa thầu nhỏ dùng để đóng đinh) cầm trên tay đi theo H, định đánh lại H nhưng được mọi người can ngăn và lấy vứt bỏ cây búa trong bụi chuối, còn H cầm cây dao đi về hướng ngã tư Giải phóng và gặp bà Lê Thị Ngọc H (Cô ruột của H), bà Hân giật lấy cây dao trên tay H và điều khiển xe môtô chở H về nhà H, khi lực lượng Công an đến làm việc bà Hân tự nguyện giao nộp cây dao trên. Sau đó, ông Q và Â được mọi người đưa đến Trung tâm y tế thị xã Long Mỹ điều trị thương tích đến ngày 09/9/2020 thì ra viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 127/2020/TgT ngày 16/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang, kết luận tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại cho Trần Văn  là 7% và bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 128/2020/TgT ngày 16/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang, kết luận tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại cho Trần Văn Q là 02%.

Tại cáo trạng số 35/CT-VKS-TXLM ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ đã quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H về Tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H về tội cố ý gây thương tích, mức hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường của bà Nguyễn Thị L ( mẹ ruột bị cáo) đồng ý khắc phục hậu quả cho người bị hại Trần Văn  10.000.000 đồng và khắc phục cho ông Trần Văn Q 2.300.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn H tại phiên tòa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại Trần Văn  yêu cầu Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định pháp luật; Về trách nhiệm dân sự bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích số tiền 10.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn Q yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích 2.300.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L đồng ý tự nguyện khắc phục thay cho bị cáo đối với anh Trần Văn  10.000.000 đồng và khắc phục cho ông Trần Văn Q 2.300.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà:

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Long Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét lời khai của bị cáo Lê Văn H tại phiên tòa đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/9/2020 bị cáo Lê Văn H sau khi uống rượu say đã dùng cây dao có tổng chiều dài 38cm, lưỡi dao bằng kim loại màu Đ dài 25cm, có một cạnh sắc bén, bề rộng lớn nhất của lưỡi dao có kích thước 07cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13cm, có gắn một cái khoen tròn bằng kim loại, lưỡi dao bầu, mũi dao nhọn là loại hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người bị hại Trần Văn Â, tổn hại đến sức khỏe hiện tại là 07%. Như vậy hành vi trên của bị cáo Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành “Tội cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó có thể khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm có khả năng gây thương tích cho người khác, nhưng chỉ vì uống rượu say, không kiềm chế được bản thân khi bị ông Q từ chối chơi đá gà cùng mà bị cáo dùng tay đánh ông Q gây thương tích, sau khi được Trần Văn  qua ngăn cản đáng lẽ ra bị cáo phải chấm dứt hành vi nhưng bị cáo lại dùng dao thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích cho bị hại Trần Văn Â. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tôi không thuộc tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, do đó mức án mà kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi của bị cáo Lê Văn H dùng tay xô ông Trần Văn Q té ngã gây thương tích với tỷ lệ 02%, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng hay định khung trong vụ án này. Do đó, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường chi phí tổn hại sức khỏe cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn Q.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị L (mẹ rột bị cáo) cho rằng do hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên bà L đồng ý thay bị cáo khắc phục hậu quả cho người bị hại Trần Văn  10.000.000 đồng và cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn Q 2.300.000 đồng và được anh Ân và ông Q đồng ý. Xét thấy, sự thỏa thuận này phù hợp với qui định pháp luật nên căn cứ vào Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 585, 586 Điều 592 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng trong vụ án do không còn giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2020 giữa Cơ quan Công an cảnh sát điều tra công an thị xã Long Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ).

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm a khoản 1 điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao ghi nhận sự thỏa thuận về mức bồi thường của các đương sự, bà Nguyễn Thị L (mẹ rột bị cáo) đồng ý thay bị cáo khắc phục hậu quả cho người bị hại Trần Văn  10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn Q 2.300.000 đồng (hai triệu, ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cái khăn hình chữ nhật bằng vải màu vàng kích thước (0,7x0,36)m, có dính nhiều vết dịch khô màu nâu đỏ.

- 01 (một) cái quần short bằng vải màu xám bạc, ở lưng quần phía sau có dính nhiều vết dịch khô màu nâu đỏ.

- 01 (Một) cây dao có tổng chiều dài 38cm, lưỡi dao bằng kim loại màu Đ dài 25cm, có một cạnh sắc bén, bề rộng lớn nhất của lưỡi dao có kích thước 07cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13cm, có gắn một cái khoen tròn bằng kim loại, lưỡi dao bầu, mũi dao nhọn, cây dao đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/020 giữa cơ quan CSĐT Công an thị xã Long Mỹ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ).

Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 615.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25-11-2020).


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về