Bản án 32/2020/DS-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 32/2020/DS-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 30/9/2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2020/TLST-DS ngày 29/6/2020 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách- Xã hội (gọi tắt là Ngân hàng).

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trương Trọng T, Phó Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách- Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2020), có mặt:

- Bị đơn: Hộ ông Nguyễn Chí Tgồm các thành viên: ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1967 và ông Nguyễn Chí T (con ông T), sinh năm 1997, cùng địa chỉ: Tổ dân phố, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (đều vắng mặt):

 NỘI DUNG VỤ ÁN

 * Trong đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn, Ngân hàng Chính sách- Xã hội (Đại diện theo ủy quyền là ông Trương Trọng T) trình bày:

Ngày 20/4/2018, Ngân hàng Chính sách - Xã hội (Thông qua phòng giao dịch huyện Đ) cho hộ ông Nguyễn Chí T(do ông T đại diện) vay vốn chương trình hộ nghèo số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 6,6%/năm (định kỳ trả lãi: 01 tháng/lần); thời hạn cho vay 36 tháng (định kỳ trả gốc: 12 tháng/kỳ, trả 3 kỳ, mỗi kỳ trả 10.000.000 đồng), thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 20/4/2021.

Việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Sau khi vay, hộ ông T chỉ trả lãi đến ngày 25/7/2018. Từ đó đến nay, không trả khoản tiền nào.

Hộ ông T đã sử dụng vốn không đúng mục đích, vi phạm nghĩa vụ trả lãi, trả nợ gốc theo thỏa thuận, các thành viên trong hộ hiện nay đã đi khỏi địa phương.

Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Chí Tvà thành viên trong hộ là ông Nguyễn Chí T (con ông T) trả 30.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 26/7/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 4.318.734 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2020 cho đến khi trả nợ xong.

* Ông Nguyễn Chí Tvà ông Nguyễn Chí T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt. Do đó, hồ sơ không có lời khai, ý kiến của ông T, ông T.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 90, 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 134, 139, 288, 357 của Bộ luật dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Buộc ông T, ông Tchịu toàn bộ án phí của vụ án để sung quỹ nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Ngân hàng Chính sách- Xã hội khởi kiện các thành viên hộ ông Nguyễn Chí Tgồm: ông Nguyễn Chí T, ông Nguyễn Chí T để thu hồi nợ. Xét thấy, Ngân hàng Chính sách - Xã hội là người có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

[2] Ông Nguyễn Chí Tvà ông Nguyễn Chí T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T, ông T.

[3] Căn cứ hợp đồng tín dụng (sổ vay vốn, bút lục số 05), giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (bút lục số 04) và các chứng cứ khác do Ngân hàng cung cấp, có căn cứ để nhận định:

Ngày 20/4/2018, hộ ông Nguyễn Chí T(gồm các thành viên: ông Nguyễn Chí T, ông Nguyễn Chí T) do ông T đại diện vay của Ngân hàng Chính sách - Xã hội (thông qua Phòng giao dịch huyện Đ) 30.000.000 đồng, lãi suất 6,6%/năm (định kỳ trả lãi: 01 tháng/lần); thời hạn cho vay 36 tháng (định kỳ trả gốc: 12 tháng/kỳ, trả 3 kỳ, mỗi kỳ trả 10.000.000 đồng), thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 20/4/2021.

Trong quá trình vay vốn, hộ ông T đã sử dụng vốn vay không đúng mục đích, vi phạm nghĩa vụ trả gốc, trả lãi theo thỏa thuận, hiện nay các thành viên trong hộ đã đi khỏi địa phương.

Ngân hàng yêu cầu ông T, ông T trả 30.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ. Cần áp dụng các Điều 90, 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 134, 139, 288 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: buộc ông Nguyễn Chí Tvà ông Nguyễn Chí T trả cho Ngân hàng các khoản sau:

- Nợ gốc 30.000.000 đồng:

- Nợ lãi tính từ ngày 26/7/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2020) là 4.318.734 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2020 cho đến khi trả hết nợ.

[4] Về án phí: Buộc ông T chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

 Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 134, 139, 288, 357 của Bộ luật dân sự; các Điều 144, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách- Xã hội.

1. Buộc ông Nguyễn Chí Tvà ông Nguyễn Chí T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Chính sách - Xã hội (thông qua phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách - Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai) các khoản:

- Nợ gốc 30.000.000 đồng:

- Nợ lãi tính từ ngày 26/7/2018 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 4.318.734 đồng. Tổng cộng là: 34.318.734 đồng (ba mươi bốn triệu ba trăm mười tám ngàn bảy trăm ba mươi bốn đồng).

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Chí Tvà ông Nguyễn Chí T có nghĩa vụ liên đới chịu 1.715.937 đồng (một triệu bảy trăm mười lăm ngàn chín trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Ngân hàng Chính sách – Xã hội không phải chịu án phí.

5. Các vấn đề khác:

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kể từ ngày 01/10/2020 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; Nếu không có thỏa thuận thì mức lãi suất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 32/2020/DS-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:32/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đăk Đoa - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về