Bản án 30/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 30/2019/HS-ST NGÀY 28/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 31/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 tại Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã ĐK, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 11, phường T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị A; có vợ là Nguyễn Thị B; có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 11 năm 2018 đến ngày 22 tháng 11 năm 2018 chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Phạm Duy T, sinh năm 1995; địa chỉ: Số nhà 160, đường T, Tổ 05, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

2. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà 10, Tổ 02, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn K, xã ĐK, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 13 giờ 00 phút, ngày 19 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 17H1-2563 từ chỗ ở của T đến đường P thuộc Tổ 38, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T gặp và mua của 01 người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 200.000 đồng được 01 gói ma túy bên ngoài gói bằng túi nilon màu đen. Mua xong, T cất giấu gói ma túy trên vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đi đến đường N thuộc Tổ 31, phường T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Phạm Duy T và anh Dương Ngọc H, T tự giác lấy từ túi quần bên phải giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng túi nilon màu đen, bên trong gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, trong cùng chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai đó là hêrôin, T mua mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định; ngoài ra, còn quản lý của T 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 17H1- 2563, số tiền 80.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh, đã cũ (đã niêm phong trong phong bì).

Tại Kết luận giám định số 399/KLGĐ-PC09 ngày 19 tháng 11 năm 2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Văn T là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1147 gam (không phẩy một nghìn một trăm bốn mươi bẩy gam).

Cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 22 tháng 01 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19 tháng 11 năm 2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì số 399/KLGĐ mẫu vật hoàn trả sau giám định; trả lại bị cáo số tiền 80.000 đồng và 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; trả lại anh Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 17H1-2563. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại đường N thuộc Tổ 31, phường T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1147 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Hành vi trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước, ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy cần lên một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 80.000 đồng và 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh là tài sản của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại bị cáo nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 17H1 – 2563 quản lý của bị cáo, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại anh Đ.

[8] Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn T khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực đường P thuộc Tổ 38, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[9] Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo Nguyễn Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 19 tháng 11 năm 2018).

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 399/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu xanh, đã cũ (đã niêm phong trong phong bì), nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

3.3 Trả lại anh Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển kiểm soát 17H1 – 2563, đã cũ.

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vào ngày 22 tháng 01 năm 2019) 4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 02 năm 2019).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:30/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về