Bản án 30/2018/HS-ST ngày 07/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG - HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 30/2018/HS-ST NGÀY 07/09/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Cao Nguyên P, sinh ngày 26/10/19XX tại Hải Dương; ĐKNKTT và chỗ ở: khu 1 thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn H, sinh năm 1952, con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 có 02 con sinh, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; tiền án: Án số 28 ngày 06/12/2010, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 12.000.000 đồng); án số 30 ngày 01/8/2013, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 2.700.000 đồng); án số 32 ngày 26/9/2013, TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 30 ngày 01/8/2013 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 22 tháng tù; án số 29 ngày 30/9/2015, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; nhân thân: Án số 12 ngày 13/7/2006, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 1.500.000 đồng), đã được xóa theo Nghị quyết 33 của Quốc hội; bị tạm giữ từ ngày 13/3/2018, tạm giam từ ngày 19/3/2018; có mặt.

Người làm chứng: Anh Vũ Tá N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại p hiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 9 giờ 20 phút ngày 13/3/2018, Công an huyện Tiên Lãng phát hiện bắt quả tang Cao Nguyên P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực cổng chợ Đôi khu 2 thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Thu giữ trong lòng bàn tay phải P 02 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, ngoài ra còn thu giữ của P 01 điện th oại di động Masstel và 250.000 đồng. Tiến hành k hám xét khẩn cấp nơi ở của Cao Nguyên P nhưng không thu giữ được vật chứng gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 117/KLGĐ ngày 15/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,8350 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra Cao Nguyên P khai nhận: Phú là người nghiện ma túy đá nên sáng ngày 12/3/2018, P đi xe ôm đến quán Internet ở ngã tư Quang Thanh, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, Hải Phòng mua 02 túi ma túy đá của một người thanh niên thường xuyên chơi điện tử với P tại đây mục đích để sử dụng nhưng Phú chưa hỏi giá, chưa trả tiền và hẹn sẽ trả tiền vào lần gặp sau. P cầm 02 gói ma túy thuê xe ôm về nhà nghỉ ở huyện Tiên Lãng ngủ qua đêm. Đến sáng ngày 13/3/2018, P gói 02 gói ma túy đá trong giấy bản mầu trắng cầm ở tay phải đi ra ngoài đường thuê ông Trịnh Văn T, sinh năm 19 XX; trú tại: Thôn L, xã T, huyện T làm xe ôm chở Phú về nhà. Khi ông T chở P đi đến khu vực cổng chợ Đôi khu 2 thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng thì bị Công an huyện Tiên Lãng bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 20/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo Cao Nguyên P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi cất giữ trái phép 02 gói ma túy đá trọng lượng 8,8350 gam, là loại Methamphetamine mục đích để sử dụng như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Cao Nguyên P và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Nguyên P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

Căn cứ điểm g, o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 30, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo Cao Nguyên P mức án từ 07 năm đến 08 năm tù; phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và 250.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lãng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điề u tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiế n hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 9 giờ 20 phút ngày 13/3/2018 bị cáo Cao Nguyên P đã có hành vi cất giữ trái phép 02 túi ma túy đá trọng lượng 8,8350 gam, là loại Methamphetamine mục đích để sử dụng bị bắt quả tang tại khu vực cổng chợ Đôi, khu 2 thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng; về nhân thân, bị cáo có 04 tiền án đều chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Cao Nguyên P đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Methamphetamine có khối lượng từ 5 gam đến dướ i 30 gam” và “tái phạm nguy hiểm”, vi phạm điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội .

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Bị cáo đã 05 lần bị kết án , trong đó có 04 tiền án chưa được xóa án đó là án số 28 ngày 06/12/2010, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 12.000.000 đồng); án số 30 ngày 01/8/2013, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 2.700.000 đồng); án số 32 ngày 26/ 9/2013, TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tổng hợp với hình phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 30 ngày 01/8/2013 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 22 tháng tù; án số 29 ngày 30/9/2015, TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo không lấy các tiền án này làm bài học để cảnh tỉnh mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, điều đó cho thấy bị cáo có nhân thân rất xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém , bản thân lại là người nghiện ma túy, do vậy cần xử lý nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và để bị cáo cai nghiện ma túy, đồng t hời cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo có bố là bệnh binh được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 7,3296 gam Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì thư. Xét đây là chất ma túy, cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã cũ và 250.000 đồng. Xét không liên quan đến việc phạm tội nên không tịch thu , trả lại cho bị cáo.

[5] Đối với người thanh niên bán ma túy cho P, Cơ quan điều tra công an huyện Tiên Lãng chưa xác định được tên tuổi , địa chỉ của thanh niên này này, nên đã tách ra điều tra xử lý sau.

Đối với ông Trịnh Văn T, sinh năm 1965; trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, Hải Phòng là người xe ôm chở P khi bị bắt. Ông T khô ng biết P có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g, o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Cao Nguyên P 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 13/3/2018.

Phạt bổ sung bị cáo Cao Nguyên P số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 7,3296 gam Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong số 117/PC54.

Trả lại bị cáo Cao Nguyên P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã cũ và 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền này đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng theo giấy chuyển tiền ngày 26/7/2018).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2018 giữa Công an huyện Tiên Lãng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự 


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/HS-ST ngày 07/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:30/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lãng - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về