Bản án 29/2019/HSST ngày 12/03/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 29/2019/HSST NGÀY 12/03/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 12 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí  Minh  mở  phiên  toà  xét  xử  công  khai  sơ  thẩm  vụ  án  hình  sự  thụ  lý  số: 02/2019/HSST ngày 02 tháng 01  năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T; giới tính: Nam, sinh năm 1983 tại Nam Định; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã TK, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: 302/16 Đường PH, Phường H, quận G, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 06/12; Con ông Trần Văn X (sinh năm 1947) và bà Đào Thị H (sinh năm 1951); Hoàn cảnh gia đình: có vợ Trần Thị Nh, sinh năm 1987; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án : không; tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Bị hại :

- Ông Dương Đông Đ, sinh năm 1994 (đã chết);

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Bành Kim L, sinh năm 1977; trú tại: Ấp X, xã Th, huyện Ch, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Võ Minh L, sinh năm 1979; trú tại : ấp Mỹ H, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)

- Ông Dương Văn T, sinh năm 1977; trú tại : ấp G, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long  (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 03/10/2017, tại giao lộ ngã tư đường Phan Huy Ích + Nguyễn Tư Giản, phường 14, quận Gò Vấp xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 do Trần Văn T điều khiển lưu thông trên đường Phan Huy Ích hướng từ đường Quang Trung về đường Trường Chinh đến địa điểm trên Tính điều khiển xe mô tô ba bánh vượt trái xe ô tô biển số 84C-01645 do Võ Minh L điều khiển đang dừng phía trước chờ chuyển hướng quẹo trái vào đường Nguyễn Tư Giản phía trước cùng chiều cùng lúc đó xe mô tô biển số 59G2- 014.72 do Dương Đông Đ điều khiển lưu thông chiều ngược lại đụng vào xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 thì cả người và xe ngã văng vào bên trái xe ô tô biển số 84C-01645; thùng xe mô tô ba bánh rơi khỏi xe.

Tai nạn xảy ra đã làm:

Dương Đông Đ chết tại chỗ. Xe mô tô biển số 59G2-01471, xe mô tô ba bánh 60Y2-7525 bị hư hỏng nặng và xe ô tô 84C-01645 hư hỏng nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 929-17/KLGĐ-PY ngày 01 tháng 11 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh kết luận nguyên nhân chết của Dương Đông Đ do đa chấn thương nặng (chấn thương sọ não, chấn thương ngực – bụng, chấn thương gãy chân phải); trong máu có nồng độ cồn 119,28mg/100ml .

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường cho thấy: Vụ tai nạn xảy ra tại giao lộ ngã tư đường Nguyễn Tư Giản hướng từ Phan Huy Ích về

Phạm Văn Bạch rộng 6,60 mét, mặt đường được trải nhựa phẳng, đường hai chiều lưu thông. Đường Phan Huy Ích rộng 8,80 mét, mặt đường được trải nhựa phẳng.

Giữa đường có kẻ vạch sơn màu vàng không liên tục, phân chia chiều đường, đường hai chiều lưu thông.

Nơi xảy ra tai nạn là phần đường bên phải đường Phan Huy Ích chiều xe lưu thông hướng từ đường Quang Trung về đường Trường Chinh. Vị trí xe ô tô biển số84C - 016.40 sau tai nạn vẫn đứng, đầu xe hướng về đường Trường Chinh. Trục bánh trước bên phải xe cách vị trí điểm cố định 3,6m, cách mép đường chuẩn1,30m. Trục bánh sau bên phải xe cách mép đường chuẩn 1,20m.

Vị trí xe mô tô biển số 59G2 – 014.72, sau tai nạn ngã nằm về bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng vào lề trái đường Phan Huy Ích, trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 2,60m. Trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 3,4m, cách trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 84C - 016.40 là 2,50m.

Vị trí xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 sau tai nạn vẫn đứng, thùng xe gãy rơi ra đường, đầu xe hướng về đường Trường Chinh. Trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn 6,60 m, trục bánh sau bên phải xe cách mép đường chuẩn 5,0m, cách cạnh sau bên phải thùng xe 7,30m.

Nguyên nhân chính do Trần Văn T điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 không có giấy phép lái xe theo quy định, vượt không đảm bảo an toàn. Vi phạm khoản 9 điều 8, khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ. Dương Đông Đ điều khiển xe mô tô biển số 59G2-01471 lưu thông trong tình trạng say xỉn trong máu tìm thấy nồng độ cồn 119,28mg/100ml, không chú ý quan sát. Vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Võ Minh L điều khiển xe ô tô biển số 84C-01645 dừng chuyển hướng để rẽ trái không có lỗi.

Về dân sự:

Về phía ông Dương Văn T (chủ xe ôtô biển số 84C-01645) hỗ trợ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) (chi phí mai táng) cho gia đình nạn nhân Dương Đông Đ. Bà Bành Kim L đồng ý nhận số tiền trên và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì.

Bà Bành Kim L đề nghị Trần Văn T bồi thường số tiền 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng). Tính đã bồi thường số tiền trên cho bà L. Bà Lđồng ý nhận số tiền trên và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) chiếc xe ba gác gắn máy biển số 60Y2-7525, số khung: cắt mất số, số máy: LX162MK-10-NG070047. Qua xác minh, biển số trên là biển số của xe Honda Air Blade có số máy 5269127, số khung 665434, do Đinh Văn H đứng tên chủ sở hữu (không liên quan đến vụ án). Qua xác minh số khung: cắt mất số, số máy: LX162MK-10-NG070047 thì số khung bị cắt mất số, không xác định được số nguyên thủy, số máy bị đục sửa số, không xác định được số nguyên thủy. Tại Kết luận giám định số 4321/C09B ngày 12.11.2018 của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh kết luận: Dung tích xi-lanh của xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 gửi giám định được xác định theo phương pháp tính toán là 177 cm3. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên.

- 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59G2 – 014.72, số máy: CR100FMG114025,  số  khung:  VCRPCG0021R114025,  qua  xác  minh  do  ông Nguyễn Văn Em đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4/2016, ông Em bán chiếc xe trên choMinh Q, hiện Minh Q đã bỏ đi đâu không rõ. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăngbáo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô có số seri 007989 đứng tên đăng ký Hoàng Minh Th.

+ 01 (một) chiếc xe ôtô biển số 84C-016.40, số máy: J08CF31277, số khung: JHDFG1JPU8XX14102, qua xác minh do chị Võ Thị Ở đứng tên chủ sở hữu. Ngày27.10.2017, chị Ở bán chiếc xe trên cho anh Dương Văn T. Ngày 02.11.2017, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh Tới .

Tại cơ quan điều tra Trần Văn T đã thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội như đãnêu trên.

Tại bản cáo trạng số 13/Ctr-VKS, ngày 27/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khỏan 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999,  điểm b, s Khỏan 1, khỏan 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn T  mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo

- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu 01 (một) chiếc xe ba gác gắn máy biển số 60Y2-7525, số khung: cắt mất số, số máy: LX162MK-10-NG070047 bị đục không còn nguyên thủy và 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59G2 – 014.72, số máy: CR100FMG114025, số khung: VCRPCG0021R114025 trong thời hạn 3 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô có số seri 007989 đứng tên đăng ký Hoàng Minh Th,

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

 [2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn, sơ đồ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm xe, phù hợp với kết luận của Cơ quan điều tra, với cáo trạng của Viện kiểm sát và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Trần Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt trừng trị được qui định tại Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ cần phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật Giao thông đường bộ thì ngược lại bị cáo đã không có giấy phép lái xe mà còn chủ quan điều khiển xe mô tô khi lưu thông vượt trái xe phía trước đang dừng chờ chuyển hướng quẹo trái không đảm bảo an toàn, lấn sang phần đường chiều ngược lại để vượt xe ô tô biển số 84C -016.84. Nguyên nhân chính do Trần Văn T điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 60Y2-7525 không có giấy phép lái xe theo quy định, vượt không đảm bảo an toàn vi phạm khoản 9 điều 8, khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm chết một người ngay tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn. Từ đó, làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và gây đau thương mất mát về mặt tinh thần cho gia đình của người bị hại và ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ. Đối với người bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô biển số 59G2-01471 lưu thông trong tình trạng say xỉn trong máu tìm thấy nồng độ cồn 119,28mg/100ml, không chú ý quan sát vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Võ Minh L điều khiển xe ô tô biển số 84C-01645 dừng chuyển hướng để rẽ trái không có lỗi.

Do đó, việc xử lý bị cáo Trần Văn T bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng với quy định của pháp luật, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo nhận thức được hành vi sai trái để trở thành công dân tốt sống có ích cho xã hội, biết tôn trọng phap luật nói chung và tôn trọng Luật giao thông đường bộ nói riêng, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

 [4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau tai nạn bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại đã có đơn bãi nại về mặt dân sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

 [5]Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 202 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Taị phiên tòa hôm nay, Bà Bành Kim L là mẹ ruột của ông Dương Đông Đ (đã chết) là đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện gia đình người bị hại đã nhận được số tiền bồi thường là 142.000.000 đồng bao gồm bịcáo Tính đã bồi thường 132.000.000 đồng và ông Dương Văn T là chủ xe ô tô biển số 84C -01640 đã tự nguyện hỗ trợ số tiền 10.000.000 đồng. Bà L xác định đã nhận đủ tiền và có đơn xin bãi nại về mặt dân sự và không yêu cầu hay thắc mắc khiếu nạigì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc xe ôtô biển số 84C-016.40, số máy: J08CF31277, số khung: JHDFG1JPU8XX14102, qua xác minh do chị Võ Thị Ở đứng tên chủ sở hữu. Ngày 27.10.2017, chị Ở bán chiếc xe trên cho anh  Dương Văn T. Ngày 02.11.2017, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh Tới. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết lại.

- Đối với  01 (một) chiếc xe ba gác gắn máy biển số 60Y2-7525, số khung: cắt mất số, số máy: LX162MK-10-NG070047. Qua xác minh, biển số trên là biển số của xe Honda Air Blade có số máy 5269127, số khung 665434, do Đinh Văn H đứng tên chủ sở hữu (không liên quan đến vụ án). Qua xác minh số khung: cắt mấtsố, số máy: LX162MK-10-NG070047 thì số khung bị cắt mất số, không xác định được số nguyên thủy, số máy bị đục sửa số, không xác định được số nguyên thủy,cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng đến nay vẫn chưa có người đến nhận. Xét, chiếc xe không xác định được chủ sở hữu, có số máy số khung không phù hợp và là phương tiện gây nên tai nạn nên Hội đồng xétxử quyết định giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 3 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59G2  – 014.72, số máy: CR100FMG114025, số khung: VCRPCG0021R114025, qua xác minh do ông Nguyễn Văn Em đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4/2016, ông Em bán chiếc xe trên cho Minh Q, hiện Minh Q đã bỏ đi đâu không rõ. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng đến nay vẫn chưa có người đến nhận, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 3 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô có số seri 007989 đứng tên đăng ký Hoàng Minh Th, qua giám định là giấy đăng ký giả nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T  phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s  khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Văn T  03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu 01 (một) chiếc xe ba gác gắn máy biển số 60Y2-7525, số khung: cắt mất số, số máy: LX162MK-10-NG070047 bị đục không còn nguyên thủy và 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59G2 – 014.72, số máy: CR100FMG114025, số khung: VCRPCG0021R114025 trong thời hạn 3 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô có số seri 007989 đứng tên đăng ký Hoàng Minh Th,

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 275/PNK ngày 27/11/2018 của Công an quận Gò Vấp .

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;  Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt, hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về