Bản án 46/2017/HSST ngày 14/07/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 46/2017/HSST NGÀY 14/07/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 14 tháng 07 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2017/HSST ngày 12 tháng 05 năm 2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T - Sinh ngày 12 tháng 04 năm 1986 tại Quảng Nam; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ văn hoá 12/12; con ông Nguyễn P (s) và bà Nguyễn Thị H(s); tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh Tr – sinh năm 1985 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thanh Tr:

1. Chị Lưu Nguyễn Thảo N (vợ của người bị hại) – sinh năm 1991; trú tại: tổ 39, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

2. Bà Phan Thị E (mẹ ruột người bị hại) – sinh 1948; trú tại: tổ 135, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Bà Phan Thị E và chị Lưu Nguyễn Thảo N cùng ủy quyền cho bà Võ Thị Thanh T (em ruột của người bị hại) – sinh năm 1988; trú tại: tổ 135, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Hữu P – sinh năm 1977; trú tại: tổ 135, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Hồng C – sinh 1979; trú tại: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18h00 ngày 22/6/2016, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 92D1 - 042.90 lưu thông trên đường Hoàng Văn Thái theo hướng Hòa Sơn - Hòa Minh với tốc độ khoảng 45-50 km/h, để về nhà lấy thuốc uống do đang lên cơn hen xuyễn khó thở. Khi đến ngã tư Hoàng Văn Thái – Đà Sơn – Kiệt 264 Hoàng Văn Thái thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có gờ giảm tốc độ, có tín hiệu giao thông nhấp nháy màu vàng nhưng do đang mệt trong người nên T vẫn điều khiển cho xe chạy thẳng qua ngã tư mà không giảm tốc độ thì phát hiện phía trước cách 06-07m có anh Võ Thanh Tr (SN: 1985; Trú tại: tổ 135, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) điều khiển xe mô tô BKS 43T2 - 4082 đi theo hướng ngược lại Hòa Minh-Hòa Sơn và đang chuyển hướng rẽ vào đường Đà Sơn, nên xe của T đã tông thẳng vào bên phải xe mô tô của anh Tr, làm cho anh Tr ngã xuống đường bị thương tích, sau đó được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng, đến ngày 10/9/2016 thì tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 423/GĐ-PY ngày 05/12/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng kết luận: Anh Võ Thanh Tr tử vong là do đa chấn thương.

* Khám nghiệm hiện trường xác định:

1/ Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là ngã tư đường Hoàng Văn Thái – Đà Sơn – Kiệt 264 Hoàng Văn Thái (phường H, quận L). Đường Hoàng Văn Thái được trải nhựa, phẳng, rộng 15m, có hai chiều, mỗi chiều có 2 làn đường, mỗi làn rộng 3,75m, được phân ra bằng 03 vạch kẻ đường sơn trắng đứt đoạn. Tại nơi xảy ra tai nạn, đường không bị che khuất và có đèn tín hiệu giao thông nhấp nháy màu vàng cảnh báo nguy hiểm. Đường Đà Sơn có mặt đường trải nhựa rộng 10,5m, phẳng, có hai chiều. Đường kiệt 264 Hoàng Văn Thái có mặt đường trải nhựa rộng 4,3m có hai chiều, đường phẳng.

2/ Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: +1. Vị trí xe mô tô 43T2 - 4082; 2. Vị trí xe mô tô 92D1 - 042.90; 3. Vết cà xước

3/ Chọn mép lề đường bên phải đường Hoàng Văn Thái (hướng Hòa Vang- Hòa Minh) và mép lề đường bên phải đường Đà Sơn (hướng Đà Sơn ra Hoàng Văn Thái) nối dài tưởng tượng làm mốc chuẩn.

4/ Hiện trường thể hiện như sau:

(1) xe mô tô BKS 43T2-4082 nằm ngã về bên trái, đầu xe quay về hướng Hòa Vang về Hòa Minh chếch thẳng về mép lề đường Hoàng Văn Thái chọn làm chuẩn; trục bánh xe trước cách mép lề đường Hoàng Văn Thái 2,35m, cách mép lề đường nối dài Đà Sơn 6,5m; trục sau xe cách mép lề đường Hoàng Văn Thái 3,5m và cách mép lề đường nối dài Đà Sơn 6,4m.

(2) Xe mô tô 92D1-04290 nằm ngã về bên trái, đầu xe quay về hướng Hòa Minh chếch về mép lề đường Hoàng Văn Thái. Từ trục trước xe này, đo vào mép lề đường Hoàng Văn Thái là 2,6m, cách mép lề đường nối dài Đà Sơn 5,5m và cách trục trước xe mô tô (1) về hướng Hòa Minh (kéo thước trực tiếp) là 0,7m. Từ trục sau của xe đo vào cách mép lề đường Hoàng Văn Thái là 3,10m, cách mép lề đường nối dài Đà Sơn 4,35m. Phần đầu xe nằm đè lên vị trí ống xã nhiên liệu xe mô tô (1).

(3) Vết cà xước có chiều dài 3,6m, không liên tục, chiều từ Hòa Vang – Hòa Minh, chếch về mép lề phải đường Hoàng Văn Thái; đầu vết cách mép lề đườn g Hoàng Văn Thái 4,5m, cách mép lề đường nối dài Đà Sơn 3m, cuối vết là vị trí giữa xe mô tô (1).

Dấu vết ghi nhận trên phương tiện xe mô tô biển số 43T2-4082:

- Góc bên trái nắp ốp đèn pha trước bị cà mòn tróc sơn, KT(4,5x2,5)cm.

- Mặt ngoài nắp ốp kính chiếu hậu trái bị cà mòn nham nhỡ, KT(2,5x2)cm.

- Đầu tay cầm trái bị cà mòn.

- Mặt ngoài phần trên cánh manh phải bị cà xước hướng trước ra sau và có một vết nứt dài 3,5cm.

- Phần dưới cánh manh phải bị bễ vỡ.

- Hộp bảo vệ lốc máy bên phải bị bễ vỡ KT(4,5x2,7)cm, tâm cách đất 29cm.

- Mặt ngoài cánh manh trái bị cà mòn, hướng trước ra sau.

- Gác để chân trước bên trái bị cong lệch hướng trước ra sau, mặt ngoài đầu su bọc ngoài bị cà mòn.

- Mặt ngoài hông xe bên trái bị cà mòn, hướng từ trước ra sau, KT(30x4)cm.

- Mặt ngoài bên trái bệ giá nâng xe bị cà mòn, KT(3x2)cm.

* Ghi nhận an toàn kĩ thuật:

+ Hệ thống kỹ thuật an toàn xe còn hiêu lực.

Xe mô tô biển số 92D1-04290:

- Mặt nạ xe trước bị nứt vỡ phần dưới, KT(14x13)cm, tâm cách mặt đất 76cm.

- Phần trên cánh manh phải bị bể vỡ hoàn toàn, tâm cách đất là 70cm.

- Phần trên cánh manh trái bị nứt vỡ KT(7,5x7)cm, tâm cách đất là 78cm; mặt ngoài bị cà xước tróc sơn hướng trước ra sau, KT(30x15)cm.

- Đầu dè chắn bùn trước bị bể vỡ, KT(12x10)cm.

- Hai phụt xe trước bị cong vẹo hướng trước ra sau, trái qua phải.

- Vành bánh xe trước bên trái bị móp lún, hướng ngoài vào tâm bánh xe, KT(19x5)cm; tâm cách đầu van ruồi theo hướng chiều kim đồng hồ là 35cm.

- Mu dơ bánh xe trước bên trái bị bể vỡ KT(12,5x5)cm. Tại vị trí này tăm xe bị cong lệch ra ngoài.

- Gác để chân trước bên trái bị cong lệch hướng trước ra sau, mặt đáy bọc su ngoài bị cà mòn.

- Cọng gương chiếu hậu bên trái bị quay lệch so với vị trí ban đầu.

* Ghi nhận an toàn kĩ thuật:

+ Xe hư hỏng nặng do tai nạn giao thông làm máy không hoạt động nên không kiểm tra được an kĩ thuật an toàn xe.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô BKS 92D1 - 042.90 cùng giấy đăng ký xe mô tô; 01 xe mô tô BKS 43T2 – 4082 cùng giấy đăng ký xe mô tô; ngày 22/2/2017, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn T và Võ Thị Thanh T (đại diện gia đình nạn nhân) theo Quyết định xử lý vật chứng số 22/CSĐT.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T: Chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T đã bồi thường số tiền 32.500.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là Võ Thị Thanh T có đơn xin bãi nại về dân sự cho Nguyễn Văn T và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 44/KSĐT ngày 12.05.2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao th ng đường bộ" theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ , ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của VKS nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cở sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 22/6/2016, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 92D1 - 042.90 lưu thông trên đường Hoàng Văn Thái, thành phố Đà Nẵng theo hướng Hòa Sơn- Hòa Minh với tốc độ 45km/h - 50km/h. khi đến đường giao nhau tại ngã tư Hoàng Văn Thái – Đà Sơn – Kiệt 264 Hoàng Văn Thái thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng có gờ giảm tốc độ, có đèn tín hiệu giao thông màu vàng nhấp nháy, nhưng Thuận không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, xử lý kém nên đã tông vào bên phải xe mô tô BKS 43T2 - 4082 do anh Võ Thanh Tr điều khiển đi theo hướng Hòa Minh- Hòa Sơn đang chuyển hướng rẽ vào đường Đà Sơn. Hậu quả: ngày 10.09.2016 anh Võ Thanh Tr tử vong do đa chấn thương.

Xét bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô BKS 92D1 - 042.90 tham gia giao thông. Khi đến khu vực giao nhau, có gờ giảm tốc độ, có đèn tín hiệu giao thông màu vàng nhấp nháy nhưng không giảm tốc độ, không chú ý quan sát đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10 của Luật Giao thông đường bộ; Khoản 3 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT- BGTVT của Bộ Giao thông vận tải, gây nguy hiểm cho tính mạng người khác vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 44/KSĐT ngày 12.05.2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T đã xâm phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến an toàn giao thông công cộng. Bị cáo có bằng lái xe theo quy định nhưng đã không tuân thủ Luật giao thông đường bộ, hậu quả anh Võ Thanh Tr tử vong lỗi phần lớn do bị cáo gây ra nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Song, xét bị cáo lần đầu phạm tội; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nhưng cũng đã bồi thường xong toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của đại diện gia đình người bị hại; trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi. Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện gia đình người bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX sẽ vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cũng đảm bảo tác dụng giáo dục.

Xét nhân thân của bị cáo tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh viêm phế quản mãn tính. Do đó, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu cũng đảm bảo tác dục giáo dục.

Đối với anh Võ Thanh Tr cũng có một phần lỗi, điều khiển xe môtô chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên đã phạm vào Khoản 2, Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, anh Võ Thanh Tr đã tử vong nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thỏa thuận bồi thường chi phí mai táng cho gia đình người bị hại anh Võ Thanh Tr số tiền 32.500.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện của gia đình người bị hại là chị Võ Thị Thanh T khẳng định đã nhận của bị cáo toàn bộ số tiền theo thỏa thuận, gia đình người bị hại đã bãi nại về dân sự cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Vật chứng của vụ án là 01 xe mô tô BKS 92D1 - 042.90 cùng giấy đăng ký xe mô tô được Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn T; 01 xe mô tô BKS 43T2 – 4082 cùng giấy đăng ký xe mô tô được Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã trả lại cho chị Võ Thị Thanh T (đại diện gia đình nạn nhân) theo Quyết định xử lý vật chứng số 22/CSĐT ngày 22.02.2017 là phù hợp nên HĐXX không đề cập đến.

- Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô (hạng A1) mang tên Nguyễn Văn T thì cần tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T là phù hợp.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về đi u khi n phương tiện giao th ng đường bộ".

- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14.07.2017.

Giao bị cáo về UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T.

(Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 12.05.2017, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang quản lý).

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

(HĐXX đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)


124
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về