Bản án 27/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 27/2019/HS-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Tăng Thanh T; Sinh ngày: 01/5/1981; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 849B đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe Honda ôm; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tăng Văn T (chết) và bà: Phạm Thị S; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/8/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 02 năm về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 136/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 21/6/2017 (Giấy chứng nhận về việc chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc số: 322/GCN-TTCNMTBL ngày 24/5/2017 của Trung tâm cai nghiện ma túy Bố Lá); Bị bắt, tạm giam ngày 22/11/2018.

Nhân thân:

- Ngày 24/11/2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi tái sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 7120/QĐ-UBND).

- Ngày 26/12/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» (Bản án số: 365/2011/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2014 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 341/GCN-CHXHPT của Trại giam Tống Lê Chân). (có mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 21/11/2018, Công an Phường 11, Quận 6 kiểm tra hành chính nhà của Tăng Thanh T tại địa chỉ 849B đường HG, Phường K, Quận F thì phát hiện có một số đối tượng đang sử dụng ma túy gồm: Tăng Thanh T, Trần Quang V, Nguyễn Chí D, Huỳnh Công T, Nguyễn Ngọc H, Trần Phương T, Phạm Thị Trúc L và đã thu giữ trong bóp màu đen của T 01 gói nylon bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, nên đã đưa các đối tượng này cùng vật chứng nêu trên về trụ sở công an phường làm việc, nhưng đến 05 giờ ngày 22/11/2018, Tăng Thanh T đã bỏ trốn. Qua truy xét, lúc 20 giờ 20 phút ngày 22/11/2018, tại đường ADV, Phường M, Quận 6, Công an Phường 11, Quận 6 phối hợp cùng Đội cảnh sát hình sự Công an Quận 6 đã bắt được Tăng Thanh T giao Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Tăng Thanh T khai: Do nghiện ma túy tổng hợp (loại ma túy đá), nên khoảng 15 giờ ngày 21/11/2018, T qua khu vực hẻm bột mì, Quận 8 mua từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 bịch ma túy đá giá 500.000 đồng rồi đem về nhà lấy ra một ít sử dụng, số còn lại T phân thành 06 bịch nhỏ cất trong bóp để dành sử dụng. Đến tối cùng ngày, T lấy ma túy ra sử dụng thì Phạm Thị Trúc L (bạn T) ngủ dậy thấy nên ngồi xuống sử dụng chung. Lúc này, Trần Quang V, Nguyễn Chí D, Huỳnh Công T, Nguyễn Ngọc H, Trần Phương T (bạn bè ngoài xã hội) lần lượt đến nhà tìm T có việc, thấy T và L đang sử dụng ma túy nên cũng vào cùng sử dụng đến 19 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ như nêu trên.

Tại Kết luận giám định số: 45/KLGĐ-H ngày 27 tháng 11 năm 2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Tấn (Điều tra viên), Nguyễn Văn Nghĩa (người chứng kiến), Tăng Thanh T và hình dấu Công an Phường 11, Quận 6 cần giám định, bên trong có:

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon có khối lượng 4,8061g (bốn phẩy tám không sáu một gam), không tìm thấy ma túy.

- Tinh thể không màu trong 06 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,5885g (một phẩy năm tám tám hai gam), loại Methamphetamine.

Đối với Trần Quang V, Nguyễn Chí D, Huỳnh Công T, Nguyễn Ngọc H, Trần Phương T, Phạm Thị Trúc L, tuy có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Công an Quận 6 đã thông báo về địa phương để xử lý hành chính.

Còn người phụ nữ bán ma túy cho Tăng Thanh T, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tăng Thanh T về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Tăng Thanh T khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi mua bịch ma túy đá giá 500.000 đồng từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) ở khu vực hẻm Bột Mì, Quận 8 rồi đem về nhà phân thành 06 bịch nhỏ cất trong bóp màu đen (có chữ Tisdeny) để dành sử dụng và bị Công an phát hiện bắt quả tang như nội dung bản cáo trạng nêu. Còn 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu là bị cáo nhặt được ngoài đường vào sáng ngày 21/11/2018.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tăng Thanh T như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Tăng Thanh T từ 02 năm đến 03 năm tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói có chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 45/19.Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Hoàng Trạc và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương, bên trong có: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 4,1582 gam và tinh thể không màu (m2) có khối lượng 1,2729 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình nhựa, ống hút, ống thủy tinh); 01 bóp da màu đen có chữ Tisdeny.

Trả lại bị cáo Tăng Thanh T 01 chiếc điện thoại di động (phía trước có ghi chữ Itel, số Imei 1: 354083090786045, số Imei 2: 354083090786052 (bên trong có 01 sim điện thoại số thuê bao: 0777841929.

Lời nói sau cùng, bị cáo Tăng Thanh T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Tăng Thanh T tại phiên tòa là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ tang vật, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tăng Thanh T đã cất giữ 1,5882 gam ma túy ở thể rắn (loại Methamphetamine) để sử dụng, là phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo Tăng Thanh T không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung.

Bị cáo Tăng Thanh T hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của mình gây ra, nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Bản thân bị cáo Tăng Thanh T ngày 28/8/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 6 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 02 năm về hành vi sử dụng chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là ngày 24/11/2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi tái sử dụng chất ma túy; ngày 26/12/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy». Mặc dù lần phạm tội này bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích thì coi như chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng điều này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội hết lần này đến lần khác.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Tăng Thanh T là nghiêm trọng, bởi ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác , do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo Tăng Thanh T còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Việc xử lý vật chứng: 01 gói có chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 45/19.Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Hoàng Trạc và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương, bên trong có: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 4,1582 gam và tinh thể không màu (m2) có khối lượng 1,2729 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình nhựa, ống hút, ống thủy tinh); 01 bóp da màu đen có chữ Tisdeny (bị cáo dùng cất giữ ma túy), là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động (phía trước có ghi chữ Itel, số Imei 1: 354083090786045, số Imei 2: 354083090786052 (bên trong có 01 sim điện thoại số thuê bao: 0777841929 thu giữ của bị cáo Tăng Thanh T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. (theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 199/PNK ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Công an Quận 6 - BL31).

[7] Quá trình điều tra, Viện kiểm sát cho rằng không đủ cở sở xác định bị cáo Tăng Thanh T có hành vi rủ rê, lôi kéo, tổ chức cho Trần Quang V, Nguyễn Chí D, Huỳnh Công T, Nguyễn Ngọc H, Trần Phương T, Phạm Thị Trúc L sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà số 849B đường HG, Phường K, Quận F vào tối ngày 21/11/2018, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Đối với Trần Quang V, Nguyễn Chí D, Huỳnh Công T, Nguyễn Ngọc H, Trần Phương T, Phạm Thị Trúc L, tuy có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và Công an Quận 6 đã thông báo về địa phương để xử lý hành chính, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với người phụ nữ mà bị cáo Tăng Thanh T khai bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác định được, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Bị cáo Tăng Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Tăng Thanh T phạm tội: «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Tăng Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2018.

- Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói có chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số: 45/19.Q6, có chữ ký niêm phong lại của Giám định viên Phan Hoàng Trạc và cán bộ điều tra Bùi Thành Phương, bên trong có: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 4,1582 gam và tinh thể không màu (m2) có khối lượng 1,2729 gam; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình nhựa, ống hút, ống thủy tinh); 01 (một) bóp da màu đen có chữ Tisdeny.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại bị cáo Tăng Thanh T 01 (một) chiếc điện thoại di động (phía trước có ghi chữ Itel), số Imei 1: 354083090786045, số Imei 2: 354083090786052 và 01 (một) sim điện thoại số thuê bao: 0777841929.

- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tăng Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Tăng Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HS-ST ngày 16/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:27/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về