Bản án 27/2019/DS-ST ngày 04/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI - TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 27/2019/DS-ST NGÀY 04/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2019/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Địa chỉ trụ sở: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường Vĩnh Thanh V, thành phố R, tỉnh K.

Địa chỉ liên hệ: 164 QL1A, khóm 2, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B.

Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công T, chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Hộ P – Chi nhánh B. Theo văn bản ủy quyền số 323/UQ-NHKL ngày 20/3/2019 (có mặt).

Bị đơn:

1/ Anh Nguyễn Quốc Th sinh năm 1989

Địa chỉ: khóm 1, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B

2/ chị Nguyễn Thị Bé P sinh năm 1990

Địa chỉ: khóm 2, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B.

Nơi ở hiện nay: khóm 1, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP K – đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Công T trình bày: Ngày 26/5/2017 Ngân hàng TMCP K và anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P có ký hợp đồng tín dụng số 0084/17/HĐTD/0201-6029 ngày 26/5/2017, số tiền vay 100.000.000 đồng, mục đích vay là bổ sung vốn bán quán giải khát, kinh doanh tạp hoá, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn là 12,6%/năm. Lãi suất cho vay thay đổi 3 tháng 1 lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ, tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 3,78%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Phạt chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với số ngày chậm trả lãi. Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng được ký kết bởi hợp đồng thế chấp số 0084/17/HĐTC- BĐS/0201-6029 ngày 26/5/2017 là Quyền sử dụng đất số CH 268744 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 10/3/2017 tọa lạc tại khóm 1, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B, diện tích 321,7m2 tại thửa số 692 tờ bản đồ số 3 do bà Nguyễn Thị L đứng tên, ghi nhận thay đổi quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P ngày 11/4/2017 bởi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Văn phòng Công chứng Hoà Bình ngày 26/5/2017 và đăng ký giao dịch tiền bảo đảm ngày 26/5/2017 tại Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Giá Rai.

Từ ngày ký kết hợp đồng và nhận tiền vay, bên vay là anh Th, chị P không thanh toán đầy đủ vốn gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP K. Đến nay Hợp đồng tín dụng đã quá hạn thanh toán và người vay đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán. Do đó Ngân hàng TMCP K yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Th chị P phải thanh toán cho ngân hàng số tiền vốn gốc vay 100.000.000 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 04/9/2019 là 23.919.041 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 05/9/2019 cho đến ngày thanh toán hết nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh Th, chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Bị đơn là anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P trình bày ý kiến tại bản tự khai, anh chị thống nhất sự trình bày của đại diện ngân hàng về việc ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và số tiền vốn vay cùng lãi phát sinh. Anh Th chị P thừa nhận nợ và đồng ý thanh toán nợ vốn vay và lãi cho ngân hàng nhưng anh Th chị P vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra iệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hoà giải và vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long về việc kiện đòi anh Th, chị P trả số tiền vay và lãi tính đến ngày 04/9/2019 là 123.919.041 đồng và lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đượng sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho các bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng các bị đơn vắng mặt không lý do tại các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Quốc Th, Nguyễn Thị Bé P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án: Theo hợp đồng tín dụng số 0084/17/HĐTD/0201-6029 ngày 26/5/2017 Nguyễn Quốc Th, Nguyễn Thị Bé P ký hợp đồng vay với Ngân hàng TMCP K, số tiền vay 100.000.000 đồng, mục đích vay là bổ sung vốn bán quán giải khát, kinh doanh tạp hoá, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn là 12,6%/năm. Lãi suất cho vay thay đổi 3 tháng 1 lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ, tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 3,78%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Phạt chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả tương ứng với số ngày chậm trả lãi. Hợp đồng tín dụng đã quá thời hạn thanh toán mà anh Th, chị P không thanh toán vốn, lại cho Ngân hàng nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn đối với hợp đồng vay của anh Th, chị P.

[3] Xét hợp đồng tín dụng số 0084/17/HĐTD/0201-6029 ngày 26/5/2017 giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên ký kết hợp đồng thỏa mãn Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 nên hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật và buộc các bên phải có nghĩa vụ thi hành. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ trả được số tiền lãi trong hạn mà không thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc cùng lãi phát sinh khi đến hạn thanh toán. Do đó, bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 280, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, cần được chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 123.919.041 đồng (trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 04/9/2019 là 23.919.041 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/9/2019 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP K theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng và theo quy định của pháp luật thể hiện tại Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Để bảo đảm cho khoản tiền vay, bị đơn đã ký hợp đồng thế chấp số 0084/17/HĐTC-BĐS/0201-6029 ngày 26/5/2017 với Ngân hàng TMCP K, thế chấp quyền sử dụng đất số CH 268744 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 10/3/2017 tọa lạc tại khóm 1, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B, diện tích 321,7m2 tại thửa số 692 tờ bản đồ số 3 do bà Nguyễn Thị L đứng tên, ghi nhận thay đổi quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P ngày 11/4/2017 bởi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Văn phòng Công chứng Hoà Bình ngày 26/5/2017 và đăng ký giao dịch tiền bảo đảm ngày 26/5/2017 tại Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã Giá Rai đúng theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tài sản thế chấp là diện tích đất 321,7m2 tại thửa số 692 tờ bản đồ số 3 (bản đồ 750), trên đất có tài sản gắn liền gồm căn nhà chính chiều ngang 4,55m; chiều dài 14,80m; diện tích 67,34m2; nhà phụ chiều ngang 4,55m; chiều dài 5,40m; diện tích 24,57m2 (trước căn nhà chính có 01 bàn thờ ông thiên bằng gạch xây). Theo các điều khoản thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp thì bên vay là anh Th, chị P thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tiền đối với ngân hàng. Vì vậy, tất cả tài sản này được xử lý để thu hồi nợ cho ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP K theo quy định tại các Điều 298, 299, 317 và 325 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95, 96 Luật các tổ chức tín dụng.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp với quy định nên HĐXX ghi nhận.

[6] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho ngân hàng.

[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã dự nộp 1.000.000 đồng, tổng chi phí thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 390.000 đồng, số tiền còn lại 610.000 đồng, Ngân hàng đã nhận lại theo phiếu chi ngày 17/7/2019. Căn cứ điều 157, 158 bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bị đơn phải chịu, do đó anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 390.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

2. Buộc anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 123.919.041 (một trăm hai mươi ba triệu chín trăm mười chín ngàn không trăm bốn mươi mốt đồng) đồng. Trong đó, tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 04/9/2019 là 23.919.041 đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Áp dụng án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Kể từ ngày 30/11/2018 cho đến khi thanh toán hết khoản tiền gốc và lãi trên, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Trường hợp bị đơn không trả đủ, đúng khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 692 tờ bản đồ số 3 (bản đồ 750) tại khóm 1, phường Hộ P, thị xã G, tỉnh B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 268744 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 10/3/2017.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc anh Nguyễn Quốc Th và chị Nguyễn Thị Bé P phải trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 390.000 (ba trăm chín mươi ngàn) đồng.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 5, 18, khoản 1 Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị đơn Nguyễn Quốc Th, Nguyễn Thị Bé P phải chịu 6.196.000 (sáu triệu một trăm chín mươi sáu ngàn) đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K 2.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo biên lai thu số 0012825 ngày 04/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


88
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về