Bản án 25/2019/HNGĐ-ST ngày 10/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 25/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 77/2019/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Hoàng Văn M chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên chửi mắng lẫn nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Hà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn M.

Về con chung: Chị H khai chị và anh M có hai con chung, các cháu tên là Hoàng Thị H, sinh ngày 22/11/1992 và cháu Hoàng Thị T, sinh ngày 14/02/2000. Cả hai cháu đã trưởng thành nên chị H không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai đề ngày 04/6/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Văn M trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H tổ chức đám cưới theo phong tục và sống chung với nhau từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Cuộc sống hoàn toàn hạnh phúc cho đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên chửi mắng lẫn nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được mà còn trở nên trầm trọng. Nay chị H xin ly hôn anh M cũng đồng ý.

Về con chung: Anh Hoàng Văn M khai, anh và chị H có hai con chung, các cháu tên là Hoàng Thị H, sinh ngày 22/11/1992 và cháu Hoàng Thị T, sinh ngày 14/02/2000. Cả hai cháu đã trưởng thành nên anh M cũng không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Do các đương sự không có đăng ký kết hôn nên Tòa án không tiến hành hòa giải về hôn nhân mà chỉ hòa giải về các vấn đề khác trong vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng đều đúng quy định theo pháp luật tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn M đều thừa nhận sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân xã H, huyện H và Ủy ban nhân dân xã L, huyện H cũng xác nhận chị H và anh M sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992. Như vậy đủ cơ sở khẳng định, chị H và anh M sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992 và không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì giữa chị H và anh M sống chung với nhau không đăng ký kết hôn là không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay chị H có yêu cầu ly hôn, cần áp dụng các quy định này và quy định tại khoản 2, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để không công nhận chị H và anh M là vợ chồng.

[3]. Về con chung: Chị H và anh M thừa nhận vợ chồng có 02 con chung, các cháu tên là Hoàng Thị H, sinh ngày 22/11/1992 và cháu Hoàng Thị T, sinh ngày 14/02/2000. Hiện cả hai cháu đã thành niên, chị H và anh M không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.

[4]. Về tài sản: Chị H và anh M không yêu cầu nên miễn xét.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân theo quy định của pháp luật.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn M là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000380 ngày 16/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung. Chị H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2019/HNGĐ-ST ngày 10/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình 

Số hiệu:25/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về