Bản án 22/2020/HSST ngày 27/02/2020 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 22/2020/HSST NGÀY 27/02/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Nhà văn hóa Tổ dân phố số 7 phường Giang Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2020/HSST ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm1985; Giới tính: Nữ; HKTT và chỗ ở: Phòng XX C37 Bắc Hà, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Tp Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1959; Có chồng là Nguyễn Quốc L, sinh năm 1956; Có 01 con sinh ngày 31/08/2018; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: không Bị can hiện bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Quốc X, sinh năm 1990 HKTT: Tổ 15 phường Gia Thụy, quận Long Biên, Tp Hà Nội.

(Có đơn xin vắng mặt) - Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980 HKTT: CTxx khu đô thị Kim Văn, Kim Lũ, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Tp Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn M, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Tp Hà Nội.

(Vắng mặt)

2. Chị Đặng Thị Z, sinh năm 1962 Địa chỉ: Số xx ngõ yy Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h00 ngày 16/12/2019 Nguyễn Thị Thu H đang ở phòng trọ thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 05631644223 của Phan Quốc X hỏi có nhu cầu mua dâm 02 (hai) người cùng một lúc. H đồng ý và rủ Nguyễn Thị O là bạn cùng phòng với H cùng đi bán dâm với H. Sau khi O đồng ý cùng đi bán dâm với H, H sử dụng điện thoại Nokia 107 với số thuê bao 0978463314 gọi lại vào máy của X để thỏa thuận tổng số tiền mua bán dâm của cả H và O là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). X thuê phòng 608 của nhà nghỉ Sành Điệu rồi thông báo lại cho H. Sau khi đến nhà nghỉ H và O lên phòng 608 để cùng X thực hiện hành vi mua, bán dâm. H với O thỏa thuận H sẽ nhận trước số tiền bán dâm của cả H và O là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) rồi sau khi bán dâm xong H sẽ chuyển lại cho O số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền bán dâm của O. Trong khi ba đối tượng đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau thì tổ công kiểm tra, phát hiện việc các đối tượng đang có hành vi mua bán dâm. Cơ quan công an đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.

 trên.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị O và Phan Quốc X khai nhận như nội dung Đối với hành vi mua dâm của Phan Quốc X Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là có căn cứ.

Đối với hành vi bán dâm của Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Thị O Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là có căn cứ.

Đối với Đặng Thị Z - SN 1962 là chủ cơ sở kinh doanh: Qúa trình điều tra xác định: Nhà nghỉ Sành Điệu có đầy đủ giấy phép kinh doanh và đã làm thủ tục theo đúng quy định khi cho khách thuê phòng, đối với Nguyễn Văn Y – SN 1987, nơi cư trú: Mạnh Tùng - Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội là nhân viên lễ tân nhà nghỉ Sành Điệu và có hợp đồng lao động: Nguyễn Văn Y khi cho X thuê phòng nghỉ không biết việc các đối tượng X, H, O có hành vi mua, bán dâm. Khi thấy các đối tượng có nghi vấn đã tích cực chấp hành hợp tác với cơ quan công an để làm rõ hành vi phạm pháp của các đối tượng, do vậy Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Lời khai của Nguyễn Thị Thu H phù hợp với lời khai của người liên quan, nhân chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-LB ngày 21/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Thị Thu H về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa; xác định bị cáo đã có hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để cho Phan Quốc X và Nguyễn Thị O thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, bố đẻ bị cáo là thương binh.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức án từ 8-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16-20 tháng Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107 màu đen; 01 điện thoại Nokia 63000 màu vàng đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng (Tất cả vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/01/ 2020) Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản; lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 17 giờ 45 ngày 16/12/2019, tại phòng số 608 nhà nghỉ Sành Điệu số xx ngõ yy Phú Viên, phường Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội Nguyễn Thị Thu H có hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn đắt để cho Phan Quốc X và Nguyễn Thị O thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Trong khi X, O và H đang quan hệ tình dục tại phòng 608 Nhà nghỉ Sành Điệu số xx ngõ yy Phố Viên, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Bồ Đề, quận Long Biên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ.

Vì vậy, hành vi của bị cáo thực hiện ngày 16/12/2019 như nêu trên, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự công cộng, đạo đức xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm lây truyền các loại virus gây bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Căn cứ theo tính chất tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nhân thân của bị cáo,Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nơi cư trú rõ ràng và tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra bố bị cáo là ông Nguyễn Văn H là thương binh, có công với Cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107 màu đen; 01 điện thoại Nokia 63000 màu vàng đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng (Tất cả vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/01/ 2020) Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính nhưng cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Về án phí:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho Uỷ ban nhân dân phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Tp Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107 màu đen; 01 điện thoại Nokia 63000 màu vàng đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng (Tất cả vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/01/2020)

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về