Bản án 22/2019/HSST ngày 19/06/2019 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 22/2019/HSST NGÀY 19/06/2019 VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2019/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2017/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Trang Thành T (tên gọi khác), sinh năm: 1936, Nơi cư trú và chổ ở: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp : Không; Cha: Trang Văn M (chết); Mẹ: Trần Thị H (chết); Vợ: Trần Thị L (chết); có 04 con, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo tại ngoại.

Bị hại: Cháu Nguyễn Cao Anh V, sinh ngày: 19/12/2012.

Đại diện hợp pháp – giám hộ cho bị hại:

Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1981

Cao Thanh N, sinh năm: 1982

Cùng cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Đỗ Thị X, sinh năm: 1942

Cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Đại diện Trường Tiểu học B V: Nguyễn Phương T – Giáo viên chủ nhiệm lớp 1A

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa bị cáo T và các đương sự cùng có mặt.

Vụ án được xét xử kín.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 15 giờ, ngày 26/11/2018, anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1981, ngụ ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang đến Công an xã V, huyện A trình báo việc Trang Thành T, sinh năm 1936, ngụ cùng địa chỉ có hành vi dâm ô với cháu Nguyễn Cao Anh V, sinh ngày 19/12/2012 (con gái anh B). Công an xã V tiến hành xác minh ban đầu và báo cáo vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A thụ lý giải quyết.

Qua điều tra xác định: Khoảng 15 giờ ngày 19/11/2018, cháu Nguyễn Cao Anh V, sinh ngày 19/12/2012 được bà Đỗ Thị X (bà nội của V), ngụ ấp V, xã V, huyện A đưa cho V 3.000 đồng để đến nhà ông Trang Thành T ngụ cùng địa chỉ mua số đề. Sau khi ghi số đề cho V xong, T kêu V lên giường cho T nựng, V đi đến giường nằm xuống, T đi kéo cửa nhà khép lại và đi đến giường cởi quần V xuống ngang đầu gối và T cởi quần mình ra, tay cầm dương vật cọ sát vào bộ phận sinh dục của V khoảng 01 phút thì T kêu V kéo quần lên rồi cho V 4.000 đồng, nhưng V không nhận và đi về nhà. Khi về đến nhà thì V nói lại sự việc cho bà X (bà nội V) nghe, sau khi nghe V nói bà X nói lại cho cha mẹ ruột V là anh Nguyễn Văn B và chị Cao Thanh N biết sự việc. Đến ngày 26/11/2018 anh B đến Công an xã V, huyện A tố giác hành vi dâm ô của T.

Căn cứ kết quả hồ sơ bệnh án, giấy y chứng số 02 ngày 14/01/2019 của Trung tâm y tế huyện A đối với Nguyễn Cao Anh V, xác định: Âm hộ, âm đạo bình thường; màng trinh còn nguyên.

Li khai của người bị hại Nguyễn Cao Anh V, người đại diện hợp pháp cho người bị hại anh Nguyễn Văn B, chị Cao Thanh N và người liên quan bà Đỗ Thị X khai nhận phù hợp với nội dung vụ án. Qua sự việc anh B, chị N yêu cầu xử lý đối với hành vi của bị cáo, không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSAP ngày 11/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A đã truy tố Trang Thành T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng của vị đại diện Viện kiểm sát vừa trên.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 146, các điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trang Thành T với mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Người đại diện bị hại trình bày tranh luận: Yêu cầu xử lý hình sự, đối với hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã lớn tuổi, không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án mà người phạm tội, cụ thể là bị cáo Tựu là người có thể xem xét được trợ giúp pháp lý theo điều 10 của Luật trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng bị cáo đã từ chối được trợ giúp, do đó việc cử người trợ giúp pháp lý cho bị cáo không đặt ra.

Đi với người bị hại là bé Nguyễn Cao Anh V, dưới 18 tuổi và là người bị xâm hại tình dục nên được áp dụng các thủ tục tố tụng đặc biệt tại chương XXVIII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015Thông tư 02/2018/TT/TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Trang Thành T đã có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 146 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đỏi bổ sung năm 2017.

Xét thấy cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện A truy tố bị cáo Trang Thành T về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất vụ án: Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người tuổi đã cao, đáng bậc là ông của cháu V nhưng vì những ham muốn dục vọng thấp hèn, nhằm thỏa mản về nhu cầu tình dục của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi đồi bại, suy đồi đạo đức, mất hết nhân tính là dùng dương vật cọ xát vào vùng âm đạo của bé V, hành vi này là hết sức nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự phát triển bình thường của cháu V cả trước mắt và lâu dài. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính xem thường pháp luật, xem thường các chuẩn mực, quy tắc đạo đức xã hội.

Trẻ em là đối tượng đặc biệt nhạy cảm cần phải được bảo vệ một cách tốt nhất, theo công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam ta là thành viên cũng như Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã được Quốc hội thông qua.

Hiện nay, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn A nói riêng đang ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được nghiêm trị một cách đích đáng để có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải, tuổi của bị cáo hiện nay cũng đã cao, sức khỏe yếu và có cuộc sống khó khăn cả về điều kiện kinh tế và điều kiện về người chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp cho bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giúp cho bị cáo sớm trở về với gia đình, tái hòa nhập với cuộc sống cộng đồng và xã hội.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 146; Các điểm điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trang Thành T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trang Thành T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trang Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/6/2019), bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về