Bản án 17/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 15/01/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 746/2018/HSST ngày 06/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6168/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chí H, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 133/41/2 V.T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 247/9A T.L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị M; có vợ không rõ và 01 con tên Lê Nguyễn Chí Khang sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ năm 2011-2013, bị Công an quận Tân Phú lập hồ sơ đưa vào Trường giáo dưỡng số 4 tại Long Thành, Đồng Nai, đến năm 2013 được trở về địa phương. Bị bắt tạm giam ngày 20/4/2018. (có mặt).

2. Nguyễn Chí H1, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 133/41/2 V.T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 247/9A T.L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam ngày 20/4/2018. (có mặt).

3. Trương Thị Thu T, sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 39/28 Lô Tư, phường B, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trí T và bà Trương Thị N; có chồng Ngô C và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tháng 12/2015, bị Công an phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân lập hồ sơ đưa đi cai nghiện tại Trường cai nghiện Phú Nghĩa, Bình Phước, đến ngày 29/12/2016 được trở về địa phương. Bị bắt tạm giam ngày 20/4/2018. (có mặt).

Các bị hại:

1. Ông Liêu Hoa T, sinh năm: 1961; trú tại: 26 Ấp 2, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (có mặt).

2. Ông Phạm Minh H, sinh năm: 1992; nơi thường trú: ấp Lý Quân 2, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: 427/2 L.V.Q, phường B, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

3. Ông Trương Anh T, sinh năm: 1968; nơi thường trú: 203/18/12C L.L.Q, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 171 Trương Phước Phan, phường B, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn G và bà Nguyễn Thị M; cùng trú tại: 133/41/2 V.T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1 và Trương Thị Thu T không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài, H, H1, T đã bàn bạc và nhiều lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 6 và quận Bình Tân. Khi đi, H, H1 và T bàn bạc, phân chia nhiệm vụ với nhau: những vụ giật dây chuyền thì Hiếu sẽ trực tiếp giật, còn những vụ đơn giản sẽ do T giật. Khoảng 16 giờ ngày 19/4/2018, H chở T bằng xe gắn máy hiệu Suzuki Raider, biển số giả 69L1- 224.46, Hiếu điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 59K2-232.14 tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Khi lưu thông trên đường Bà Hom, Phường 13, Quận 6 hướng về vòng xoay Phú Lâm, H phát hiện Liêu Hoa T đang điều khiển xe mô tô biển số 59M1-939.92 cùng chiều, chở con gái Liêu Yến Phương ngồi phía sau, trên cổ T có đeo sợi dây chuyền vàng. Thấy vậy, H kêu Hiếu dừng xe lại giao xe Honda Winner cho T, để Hiếu qua xe của H, H chở Hiếu ngồi sau đuổi theo T. Khi đến trước số 11 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, H chạy áp sát bên trái xe T, để Hiếu ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền của T nhưng bị lực lượng trinh sát Công an Thành phố Hồ Chí Minh theo dõi đạp xe ngã tại chỗ và cùng người đi đường là Vương Minh Vị, Nguyễn Thanh Hải bắt giữ lập biên bản phạm tội quả tang. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T bị Công an mời về trụ sở Phường 13, Quận 6 làm việc, đến ngày 20/4/2018 thì bị tạm giữ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Chí H1, Nguyễn Chí H, Trương Thị Thu T đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên và còn khai nhận trước đó đã thực hiện thành công 02 vụ cướp giật tài sản khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/12/2017, H chở T bằng xe mô tô hiệu Winner, không biển số để tìm tài sản cướp giật. Khi cả hai đến trước quán Karaoke Ruby, số 546 Hương Lộ 2, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân thì Nguyễn Chí H phát hiện Phạm Minh H đang ngồi bấm điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi6 trên lề đường nên liền quay xe lại chạy xe áp sát trước mặt anh Hiếu để T dùng tay phải giật điện thoại của Hiếu rồi tăng ga chạy thoát về hướng Ngã Tư Bốn Xã. Sau đó, cả hai đem bán chiếc điện thoại tại cửa hàng Hoàng Phát, số 1125 đường 3/2, Phường 6, Quận 11 được 2.300.000 đồng, H đưa cho T 300.000 đồng, còn 2.000.000 để tiêu xài chung. Ngày 22/12/2017, Phạm Minh H đến Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân trình báo.

Vụ thứ 2: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, H chở T bằng xe gắn máy hiệu Suzuki Raider, biển số giả 76H2-462.63, Hiếu đi một mình bằng xe Sonic, biển số 59K2-244.86 để tìm tài sản cướp giật. Khi đi trên đường tỉnh lộ 10 hướng từ Quốc lộ 1A về vòng xoay Phú Lâm thì cả ba phát hiện Trương Anh T đang lái xe mô tô hiệu PCX đi ngược chiều lưu thông hướng về Quốc lộ 1A có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen trong túi áo bên trái. H ra hiệu cho H1 và T biết, cả ba quay đầu xe bám theo Tuấn, khi đến trước quán cà phê Rovina số 1108 Tỉnh Lộ 10, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, H tăng ga áp sát từ phía sau bên trái của Tuấn để T ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại di động rồi tăng ga tẩu thoát về hướng Quốc lộ 1A. Sau đó, Hiếu chở T đem bán điện thoại Iphone 7 Plus tại cửa hàng Hoàng Phát, số 1125 đường 3/2, Phường 6, Quận 11 được 7.000.000 đồng, chia mỗi người 2.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng thì tiêu xài chung. Cùng ngày, Trương Anh T đã đến Công an phường Tân Tạo, quận Bình Tân trình báo.

Ngoài ra, H1, H và T còn khai nhận đã cùng nhau thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản khác vào ngày 18/4/2018 nhưng chưa xác định được bị hại, cơ quan điều tra đã đăng báo truy tìm những chưa có kết quả.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 5586 ngày 17/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp thành phố kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18K (6 chỉ) + mặt phật bọc vàng 24k (3,08 chỉ) trị giá 27.889.512 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi6 trị giá 7.137.667 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu đen trị giá 9.911.666 đồng. Tổng giá trị tài sản tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt là 44.938.845 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 519/CT-VKS-P2 ngày 29/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T đã thừa nhận các hành vi phạm tội tương tự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và cả ba bị cáo còn khai nhận trong 04 lần thực hiện cướp giật đều có cả 03 bị cáo cùng tham gia, trong đó 03 vụ xác định được bị hại, còn 01 vụ chưa phát hiện được bị hại. Về vật chứng là các điện thoại thì các bị cáo dùng để liên lạc với nhau, hẹn thời gian địa điểm để thực hiện cướp giật tài sản. Các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.

Người bị hại là ông Liêu Hoa T trình bày diễn biến bị cướp giật tài sản, trong quá trình công an bắt giữ thì không xác định được các tài sản là sợi dây chuyền, mặt phật bằng vàng bị rơi ở đâu, ông yêu cầu các bị cáo phải bồi thường bằng trị giá mà ông đã mua.

Vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra bị hại là ông Phạm Minh H khai nhận bị các bị các T và H cướp giật một điện thoại di động Xiaomi Mi6 và yêu cầu bồi thường 6.500.000 đồng. Bị hại Trương Anh T khai nhận bị các bị cáo cướp giật một điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus trị giá 9.911.666 đồng nhưng ông không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Ông Võ Văn G xin được nhận lại xe mô tô hiệu Sonic biển số 59K2- 244.86; bà Nguyễn Thị M xin được nhận lại 01 xe mô tô hiệu Winner biển số 59K2-232.14.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của các bị cáo, bị hại, cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T về tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H từ 05 đến 06 năm tù, xử phạt Nguyễn Chí H1 từ 04 đến 05 năm tù, xử phạt Trương Thị Thu T từ 05 đến 06 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo phải bồi thường cho các bị hại số tài sản bằng với trị giá định giá. Đồng thời xử lý vật chứng tịch thu sung quỹ đối với 02 điện thoại thu giữ của các bị cáo, 01 xe hai bánh gắn máy hiệu Suzuki Raider, gắn biển số giả 69L1-224.46; trả lại các xe gắn máy thuộc sở hữu hợp pháp của ông Vũ Văn Giáp, bà Nguyễn Thị M, tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng và 01 biển số xe giả theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T đã khai nhận toàn bộ những hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận định giá tài sản… Những tình tiết đã được chứng minh trên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 19/4/2018, tại trước nhà số 11 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Trương Thị Thu T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 59K2- 232.14 cản địa cho Nguyễn Chí H điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển số giả 69L1-224.46, chở Nguyễn Chí H1 ngồi phía sau để giật sợi dây chuyền vàng 18k (6 chỉ) có kèm một mặt phật bọc vàng 24k (3,08 chỉ) trị giá 27.889.512 đồng của ông Liêu Hoa T, thì H và H1 bị bắt quả tang, đến ngày 20/4/2018 thì Trương Thị Thu T cũng bị tạm giữ. Ngoài ra, các bị cáo còn thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản trong đó đã xác định được hai vụ cướp giật xác định được bị hại và được các bị cáo thừa nhận xảy ra tại quận Bình Tân. Ngày 21/12/2017, H chở T ngồi sau giật được 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi6 trị giá 7.137.667 đồng của ông Phạm Minh H. Và vào ngày 16/4/2018, cả ba bị cáo cùng tham gia giật được 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus trị giá 9.911.666 đồng của ông Trương Anh T. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt trong vụ án là 44.938.845 đồng (không tính tài sản chiếm đoạt trong lần phạm tội không xác định được bị hại). Tại phiên tòa các bị cáo còn khai nhận thêm là trong 04 lần phạm tội (03 lần xác định được bị hại, 01 lần chưa xác định được bị hại) thì đều có sự tham gia của cả ba bị cáo, có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước rồi cùng nhau thực hiện.

Như vậy, các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T đã sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ, dễ gây nguy hiểm cho người đi đường và cho chính bản thân bị cáo để thực hiện hành vi cướp giật tài sản hết sức táo bạo và liều lĩnh. Trước đó, cả ba bị cáo đã bàn bạc với nhau cùng đi tìm những người có tài sản sơ hở để cướp giật, phân chia trong trường hợp giật dây chuyền thì bị cáo H1 thực hiện, còn các tài sản khác thì do bị cáo T thực hiện, đồng thời thay thế các xe gắn máy cũng như ngăn cản người đi đường, khi cướp giật được tài sản thì cùng nhau bán chia nhau tiêu xài hoặc xài chung. Do đó, Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T về tội danh “Cướp giật tài sản” theo điểm a, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ tội phạm do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý, hoang mang lo sợ, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và phát triển văn hóa du lịch, làm giảm niềm tin của người nước ngoài đối với Việt Nam. Bản thân các bị cáo là người có đủ sức khỏe lao động nhưng đã không chuyên tâm làm việc hướng thiện mà vì long tham, muốn có tiền để tiêu xài một cách dễ dàng đã bất chấp pháp luật để rồi phạm tội, bị cáo Nguyễn Chí H có nhân thân xấu, từng bị đưa vào trường giáo dưỡng nhưng khi được tái hòa nhập cồng đồng lại không chuyên tâm sửa chữa mà lại tiếp tục phạm tội. Tất cả ba bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản phạm tội thuộc trường hợp từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần phải xử phạt mỗi bị cáo với mức án tương xứng thì mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện viện kiểm sát đã đề cập: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và đã tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp. Nên xét có thể áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Mặc dù, cả ba bị cáo cùng bị truy tố về các điểm khoản của một Điều luật, nhưng xét bị cáo H có nhân thân xấu và là người trực tiếp điều khiển xe gắn máy tham gia các lần cướp giật tài sản, có vai trò chủ động trong vụ án, mức độ phạm tội cao hơn so với các bị cáo còn lại, riêng bị cáo T hiện có con còn nhỏ, mức độ phạm tội hạn chế hơn nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt so với bị cáo H1.

Đối với Trần Thị Thu Huyền và Tạ Hoàng Long là nhân viên và chủ cửa hàng điện thoại di động Hoàng Phát đã mua các điện thoại di động do các bị cáo cướp giật được, nhưng cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai, chưa xác định được những người này có hành vi vi phạm pháp luật nên chưa đủ cơ sở xử lý.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

- Ông Phạm Minh H yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 6.500.000 đồng đối với một điện thoại di động Xiaomi Mi6 bị cướp giật, nên ba bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường, phân định mỗi bị cáo phải chịu 1/3 tương đương với 2.166.666 đồng.

- Ông Trương Anh T bị giật một điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus trị giá 9.911.666 đồng, tại giai đoạn điều tra ông có nêu ý kiến không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận không buộc các bị cáo phải bồi thường.

- Ông Liêu Hoa T bị mất số tài sản gồm: một sợi dây chuyền vàng 18K (6 chỉ) và 01 mặt phật bọc vàng 24k (3,08 chỉ) trị giá 27.889.512 đồng, cả ba bị cáo H, Hiếu, T cùng tham gia thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản này của ông T nên phải có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền này, phân định mỗi bị cáo phải chịu 1/3 tương đương với 9.296.504 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với một chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Chí H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobiistar thu giữ của Nguyễn Chí H, 01 điện thoại di động hiệu Ilel S11 Plus thu giữ của Trương Thị Thu T là phương tiện, công cụ các bị cáo liên lạc với nhau để thực hiện tội phạm nên áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Sonic biển số 59K2-244.86 thu giữ của Nguyễn Chí H1 do ông Võ Văn G là cha dượng của Hiếu đứng tên chủ sở hữu và 01 xe mô tô hiệu Winner biển số 59K2-232.14 do bà Nguyễn Thị M là mẹ ruột của Hiếu đứng tên chủ sở hữu. Hiếu khai các xe này ông Giáp, bà Mỹ để ở nhà, chìa khóa xe để trên mặt tủ lạnh để người trong gia đình sử dụng chung, việc Hiếu và H lấy xe và thực hiện hành vi phạm tội, ông Giáp, bà Mỹ không biết. Do đã xác định được các chủ sở hữu xe gắn máy trên không biết các bị cáo sử dụng tài sản của mình để thực hiện hành vi phạm tội, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho các ông bà.

- Đối với 01 xe hai bánh gắn máy hiệu Suzuki Raider, gắn biển giả số 69L1-224.46, số khung, số máy nguyên thủy không thay đổi. Qua xác minh xe trên có biển số thật là 72D1-523.16 đứng tên Phạm Duy Nam. Nguyễn Chí H1 khai ngày 27/02/2018, Hiếu mua xe này của Nam với giá 43.000.000 đồng có làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng công chứng Tân Phú nhưng thực chất Hiếu chỉ mua giùm cho cha dượng là ông Võ Văn G và chưa làm thủ tục sang tên, Hiếu lấy xe đi cướp giật, ông Giáp không biết. Mặc dù Hiếu khai nhận như trên nhưng chủ sở hữu xe dựa trên giấy tờ đã thể hiện rõ là thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nguyễn Chí H1, bị cáo giữ giấy đăng ký xe thật nhưng đã tháo biển số và thay biển số giả vào nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, chiếc xe này được các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với áo thun, quần Jean, áo khoác, sim điện thoại, quần thun, nón bảo hiểm… không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Chí H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.

2. Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Chí H1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.

3. Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Trương Thị Thu T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2018.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T phải liên đới bồi thường cho ông Phạm Minh H 6.500.000 (sáu triệu năm trăm ngàn) đồng, phân định mỗi bị cáo phải bồi thường 2.166.666 (hai triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng; liên đới bồi thường cho ông Liêu Hoa T 27.889.512 (hai mươi bảy triệu tám trăm tám mươi chín ngàn năm trăm mười hai) đồng, phân định mỗi bị cáo phải bồi thường 9.296.504 (chín triệu hai trăm chín mươi sáu ngàn năm trăm lẻ bốn) đồng.

- Ghi nhận ông Trương Anh T không yêu cầu các bị cáo Nguyễn Chí H, Nguyễn Chí H1, Trương Thị Thu T phải bồi thường.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho Nguyễn Chí H: 01 CMND tên Nguyễn Chí H;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu đen; 01 điện thoại di động Itel S11 Plus, số Imei: 35890081960328, 358590081960336 (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong máy) và 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Suzuki, số loại: Raider, biển số 69L1-224.46, số khung: RLBSG41J0E0104041, số máy: G427104501 kèm theo 01 giấy đăng ký xe số 021293. Riêng biển số 69L1-224.46 thì tách ra tịch thu, tiêu hủy.

- Trả lại cho ông Võ Văn G 01 xe hai bánh gắn máy, số loại: Sonic biển số 59K2-244.86, số khung: MH1KB1116JK147312, số máy: KB11E1146156; trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 xe hai bánh gắn máy, số loại GTR, biển số 59K2-232.14, số khung: RLHKC2602GY055337, số máy: KC26E1089307.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen, 01 quần Jean màu xanh, 01 áo thun màu trắng đỏ, 01 quần Jean màu xanh, 01 quần thun màu đen, 01 áo khoác màu đỏ, 01 áo thun len màu đỏ-xanh-trắng; 02 sim số mobiphone; 01 mũ bảo hiểm màu hồng.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 142/19 ngày 08/01/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 573.159 (năm trăm bảy mươi ba ngàn một trăm năm mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về