Bản án 100/2019/HS-ST ngày 25/10/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 100/2019/HS-ST NGÀY 25/10/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại Phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Trần Ngọc V; giới tính: Nam; sinh ngày xx tháng yy năm 19xx; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: xx đường yy, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở: xx đường yy, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Văn T và bà Mai Kim N; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: Bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 166/2014/HSST ngày 15/8/2014; bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp 03 năm tù của Bản án số 166/2014/HSST ngày 15/8/2014 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo chấp hành chung hai bản án là 05 năm 06 tháng tù theo Bản án số 126/2014/HSST ngày 09/12/2014, bị cáo chấp hành án đến ngày 29/10/2018 hết án tha; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí minh xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 89/2012/HSST ngày 10/8/2012, chấp hành án đến ngày 21/6/2013 hết án tha. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2019 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Liên Thanh H; giới tính: Nam; sinh ngày xx tháng yy năm 19xx; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: xx đường yy, Phường 2, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: xx đường yy, Phường 2, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 7/12, con ông (không rõ) và bà Liên Mỹ N; bị can chưa có vợ con; Tiền sự: Ngày 23/01/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 07/QĐ-TA; tiền án: Không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 173/2014/HSST ngày 20/6/2014, chấp hành án đến ngày 17/3/2016 hết án tha, bị cáo6 chấp hành xong việc đóng án phí ngày 12/7/2016; ngày 07/11/2016, bị Công an Phường 4, Quận 6 xử phạt hành chính với mức phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 41608/QĐ-XPHC. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2019 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị hại: Chị Đoàn Xuân N, sinh năm 1992; địa chỉ: xx đường yy, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt Nsau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 10/02/2019, bị cáo Trần Ngọc V gọi điện thoại cho bị cáo Liên Thanh H rủ đi cướp giật tài sản, H đồng ý. H điều khiển xe môtô hiệu Winner biển số 59M2-316.35 đến đường Trương Phước Phan đón V. Cả hai chạy xe lòng vòng qua các tuyến đường thuộc Quận 11 tìm người có tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đến ngã tư đường Tân Khai - Tạ Uyên thì V phát hiện chị Đoàn Xuân N đang điều khiển xe môtô phía trước cùng chiều. Chị Ncó đeo túi xách hiệu Gucci, V chỉ cho bị can H thấy và kêu H ép xe vào xe của chị N để V giật túi xách của chị N. H liền điều khiển xe chạy theo chị Như, khi đến trước nhà số 140 đường Tân Khai, Phường 4, Quận 11 thì H chạy xe từ phía sau lên áp sát phía bên phải xe chị N để cho V dùng tay trái giật đứt túi xách của chị Như, làm chị Nté ngã xuống đường. Giật xong túi xách, H điều khiển xe tăng ga bỏ chạy. Đến trước số 124/59 đường Xóm Đất, Phường 8, Quận 11 thì dừng lại, V mở túi xách thấy có nhiều tiền, đếm được 25.000.000 đồng và một bằng lái xe B2, một chứng minh nhân dân, một thẻ bảo hiểm của chị Đoàn Xuân N. H lấy tiền bỏ vào túi, còn túi xách và giấy tờ tùy thân bị cáo V ném vào sọt rác trước số nhà trên. Cơ quan điều tra đã dẫn H, V đi chỉ điểm nơi bỏ túi xách tại trước số 124/59 đường Xóm Đất, Phường 8, Quận 11 nhưng không thu hồi được. Sau khi có tiền, hai bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Chị Đoàn Xuân N đang mang thai giai đoạn 3 tháng giữa thai kỳ với thai nhi khoảng 16 tuần 06 ngày. Sau khi bị giật túi xách té ngã xuống đường, chị Nchỉ bị xây xát da trên tay, thâm bầm hông phải, trầy xước đầu gối chân phải và tụ máu bầm 2 mí mắt. Chị Ncó khám thai, siêu âm thai nhưng không phát hiện bất thường.

Ti bản Kết luận định giá tài sản số 20/KLĐGTS ngày 11/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 xác định, trị giá túi xách hiệu Gucci đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 10/02/2019 là 18.000.000 đồng.

Ngày 16/02/2019, Phòng cảnh sát hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính, phát hiện Trần Ngọc V và Liên Thanh H có biểu hiện nghi vấn cướp giật nên đưa về trụ sở làm rõ. Tại Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo V và bị cáo H đã khai nhận thực hiện hành vi cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 11 nên Phòng cảnh sát hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh bàn giao Trần Ngọc V, Liên Thanh H cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiếp tục điều tra xử lý. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11, bị cáo V và bị cáo H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai báo Ntrên.

Ngoài ra hai bị cáo H, V còn khai nhận: Với thủ đoạn tương tự, Liên Thanh H là người điều khiển xe môtô Winner biển số 59M2-316.35 chở Trần Ngọc V ngồi sau để V cướp giật, đã thực hiện được 07 vụ cướp giật tài sản khác trên địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh Nsau:

Vụ thứ 1: Ngày 08/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong có 700.000 đồng của người phụ nữ trên đường Minh Phụng, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 2: Ngày 09/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong không có tài sản của người phụ nữ đi xe Honda Air Blade trên đường Lê Đại Hành, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 3: Ngày 09/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong có 10.000 đồng của người phụ nữ trên đường Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 4: Ngày 10/02/2019, cướp giật điện thoại di động Iphone 6 (bán được 1.000.000 đồng) của người phụ nữ chạy xe Honda Vision trên đường Minh Phụng, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 5: Ngày 12/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong có 350.000 đồng của người phụ nữ chạy xe Yamaha Nouvo trên đường Phú Thọ, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 6: Ngày 12/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong có 2.500.000 đồng của người phụ nữ chạy xe Elizabeth trên đường Tôn Thất Hiệp, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ thứ 7: Ngày 13/02/2019, cướp giật giỏ xách bên trong có 800.000 đồng và điện thoại di động hiệu Samsung, bán được 2.000.000 đồng của người phụ nữ chạy xe máy trên đường Bình Thới, Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo H và bị cáo V khai các máy điện thoại bán ở các cửa hàng trên đường Ba Tháng Hai, đường Trương Phước Phan nhưng không nhớ chỗ bán. Còn túi xách ném bỏ trên đường tẩu thoát, không nhớ chỗ ném. Số tiền có được từ trong các vụ cướp giật tài sản nêu trên cả hai bị cáo đã tiêu xài hết.

Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo đi chỉ điểm nơi thực hiện các vụ cướp giật trên và xác minh tại Công an các phường nơi hai bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì không có bị hại nào đến trình báo sự việc bị cướp giật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã có văn bản đề nghị báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đăng tin tìm bị hại trong các vụ cướp giật nêu trên nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến liên hệ làm việc.

Vt chứng vụ án:

- Một xe môtô hiệu Winner biển số 59M2-316.35, số máy: KC26E1236696, số khung: RLHKC2609GY390675 là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Qua xác minh thuộc sở hữu của bị cáo Liên Thanh H, bị cáo H đã dùng để sử đi cướp giật tài sản;

- Một điện thoại di động Oppo F9 của bị cáo H, dùng để liên lạc với bị cáo V đi cướp giật tài sản;

- Một điện thoại di động Nokia TA-1034 của bị cáo V, dùng để liên lạc với bị cáo H đi cướp giật tài sản;

- Một điện thoại di động Oppo F1S của bị cáo V sử dụng chơi điện tử, không liên quan đến việc đi cướp giật tài sản;

- Một áo sơ mi tay dài màu đen thu giữ khi khám xét nhà bị cáo V. Đây là trang phục bị cáo V sử dụng đi cướp giật tài sản;

- Một bóp da màu xanh nữ bị đứt quai thu giữ khi khám xét nhà bị cáo H. Bị cáo H khai bóp da trên là tài sản cướp giật được, nhưng bị cáo H không nhớ trong vụ cướp giật nào.

Về dân sự: Chị Đoàn Xuân Nyêu cầu các bị cáo bồi thường tiền và giá trị chiếc giỏ xách Gucci bị cướp giật với tổng số tiền là 60.000.000 đồng, còn giấy tờ tùy thân và thương tích không đáng kể nên chị Nkhông yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKSQ11 ngày 27 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo bị cáo Trần Ngọc V đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “Phạm tội đối với phụ nữ có thai” và “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g, i khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Liên Thanh H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “Phạm tội đối với phụ nữ có thai”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V và bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội, có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, cả hai bị cáo chấp nhận bồi thường cho bị hại là chị Đoàn Xuân Ntiền và giá trị chiếc túi xách Gucci bị cướp giật với tổng số tiền là 60.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của chị Như, bị cáo V chấp nhận bồi thường cho chị N30.000.000 đồng và bị cáo H chấp nhận bồi thường cho chị N30.000.000 đồng.

Kim sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc V từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Liên Thanh H từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đồng thời, đề nghị hướng xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự Nsau:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước xe môtô hiệu Winner biển số 59M2-316.35, số máy: KC26E1236696, số khung: RLHKC2609GY390675 của bị cáo H;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F9 của bị cáo H;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia TA-1034 của bị cáo V;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen thu giữ của bị cáo V;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 bóp da màu xanh nữ bị đứt quai của bị cáo H;

- Trả lại cho bị cáo V một điện thoại di động Oppo F1S.

Về dân sự: Các bị cáo đã chấp nhận bồi thường cho chị Đoàn Xuân N tiền và giá trị chiếc túi xách Gucci bị cướp giật với tổng số tiền là 60.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc các bị cáo bồi thường cho chị Nsố tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định Nsau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội:

Vào khoảng 16 giờ ngày 10/02/2019, tại trước nhà số 140 đường Tân Khai, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Liên Thanh H sử dụng xe môtô làm phương tiện chở bị cáo Trần Ngọc V ngồi sau giật túi xách hiệu Gucci trị giá 18.000.000 đồng, trong túi xách có 25.000.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân của chị Đoàn Xuân N rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 43.000.000 đồng. Chị Nđang mang thai tháng thứ 4 bị ngã xe nhưng không ảnh hưởng đến thai nhi.

Li khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và những tang vật thu giữ được. Các bị cáo bằng thủ đoạn công khai, nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của bị cáo Trần Ngọc V và bị cáo Liên Thanh H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điu 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đng thời, theo quy định của pháp luật thì hành vi dùng mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản là tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với chị Nthì chị Nđang mang thai, do đó hành vi của các bị cáo V và H thuộc trường hợp “Phạm tội đối với phụ nữ có thai” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo V đã tái phạm một lần về tội “Cướp giật tài sản”, hiện nay đang có tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc để trừng trị và giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Đi với 07 vụ cướp giật tài sản mà hai bị cáo V, H khai đã thực hiện trên địa bàn Quận 11, Thành Hồ Chí Minh thì ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hiện chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh, chưa xác định được bị hại và vật chứng nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo V, H có hoàn cảnh khăn, đồng thời các bị cáo đã chấp nhận bồi thường cho chị Đoàn Xuân Ntiền và giá trị chiếc túi xách Gucci bị cướp giật với tổng số tiền là 60.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của chị Nnên không cần thiết phạt tiền đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước xe môtô hiệu Winner biển số 59M2- 316.35, số máy: KC26E1236696, số khung: RLHKC2609GY390675 của bị cáo Liên Thanh H, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F9 của bị cáo H, là phương tiện dùng để liên lạc đi cướp giật tài sản;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia TA-1034 của bị cáo V, là phương tiện dùng để liên lạc đi cướp giật tài sản;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen của bị cáo V do không còn giá trị sử dụng;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 bóp da màu xanh nữ bị đứt quai của bị cáo H do không còn giá trị sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại di động Oppo F1S do không liên quan đến việc đi cướp giật tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V và bị cáo H đã tự nguyện chấp nhận bồi thường cho chị Đoàn Xuân N tiền và giá trị chiếc túi xách Gucci bị cướp giật với tổng số tiền là 60.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của chị Như, bị cáo V chấp nhận bồi thường cho chị N30.000.000 đồng và bị cáo H chấp nhận bồi thường cho chị N 30.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo và buộc các bị cáo, mỗi người phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nsố tiền 30.000.000 đồng.

[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d, g, i khoản 2 Điều 171; ca Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc V 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2019.

Căn cứ vào Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Liên Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Liên Thanh H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2019.

Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Ngọc V có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Xuân Nsố tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Bị cáo Liên Thanh H có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Xuân Nsố tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước xe môtô hiệu Winner biển số 59M2-316.35, số máy: KC26E1236696, số khung: RLHKC2609GY390675 của bị cáo Liên Thanh H;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F9 của bị cáo Liên Thanh H;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia TA-1034 của bị cáo Trần Ngọc V;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 bóp da màu xanh nữ bị đứt quai;

- Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc V một điện thoại di động Oppo F1S.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 27/LNK- HS ngày 27/02/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về án phí:

Bị cáo Trần Ngọc V chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Liên Thanh H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Trần Ngọc V chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Liên Thanh H chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 100/2019/HS-ST ngày 25/10/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:100/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 11 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về