Bản án 42/2019/HSST ngày 16/07/2019 về tội cướp giật tài sản

TOÀ ÁN N DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 BẢN ÁN 42/2019/HSST NGÀY 16/07/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án N dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Trần Thanh T; giới tính: Nam; sinh ngày 07/7/1999 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 75/9 đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông và bà: Không rõ cha, mẹ, từ nhỏ sống với mẹ nuôi tên Nguyễn Thị S; Tiền án, tiền sự: không: N thân: Ngày 18/5/2016 bị Tòa án N dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo bản án Hình sự sơ thẩm số 172/2016/HSST.

Tạm giam từ ngày 04/12/2018, có mặt tại phiên tòa.

2. Đặng Hoàng Q (Út); giới tính: Nam; sinh ngày 30/10/1997; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không có; Cư trú: 558/8D đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Anh T và bà Đặng Ngọc T; Tiền án Ngày 22/8/2016 bị Tòa án N dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 52/2016/HSST; tiền sự : Không;

Tạm giam từ ngày 04/12/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Sĩ T, sinh năm: 1990

Địa chỉ: 2/4 Lương Định Của, phường An Khánh, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 04/12/2018, Trần Thanh T gọi điện thoại cho Đặng Hoàng Q đi cướp giật tài sản để kiếm tiền tiêu xài, Q đồng ý. Tùng điều khiển xe mô tô hiệu amaha Exciter, màu đỏ, trắng biển số 59S2-950.84 đến tiệm internet X- ame, đường Bình Quới, Phường 27, quận Bình Thạnh để gặp Q. Tại đây, sau khi bàn bạc thống nhất, Q điều khiển xe mô tô biển số 59S2-950.84 chở T thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Khoảng 16 giờ, cùng ngày khi Q chở T đi trên đường Xuân Thủy đến gần ngã ba đường Xuân Thủy và đường Nguyễn Bá Lân thì T phát hiện anh Nguyễn Sỹ T – Sinh năm 1990 (mặc áo đen) đứng đối diện phía bên kia đường trước địa chỉ số 89 Xuân Thủy, Khu phố 2, phường Thảo Điền, Quận 2, tay đang sử dụng điện thoại, hướng mặt ra đường nên T nói Q quay đầu xe lại đi về hướng anh T. Khi Q chở T ngang qua người anh T thì T bất ngờ, nhanh chóng dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động anh T đang cầm trên tay rồi giữ điện thoại giật được bằng tay phải ở phía trước người, còn Q tăng ga điều khiển xe mô tô đi về phía cầu Sài òn.

Ngay sau khi bị giật điện thoại, anh T liền tri hô Cướp và chạy bộ đuổi theo Q và T. Q chở T chạy được 50 mét thì bị kẹt xe và bị Tổ tuần tra của Công an phường Thảo Điền bắt giữ T cùng chiếc điện thoại khi T chưa kịp xuống xe. Còn Q khi bị kẹt xe thì bỏ xe chạy bộ được 10 mét cũng bị tổ tuần tra đuổi theo bắt giữ. Sau đó, Tổ tuần tra Công an phường Thảo Điền đưa Q, T và vật chứng về Công an phường Thảo Điền lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Đặng Hoàng Q và Trần Thanh T khai nhận toàn hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá số 414/HĐĐTS-TCKH ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu phone X, màu đen, số mei: 356720082604946, 256 b, đã qua sử dụng có trị giá 20.290.000 VNĐ (hai mươi triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng).

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô biển số 59S2-950.84, hiệu amaha Exciter, màu trắng, đỏ, đen, số khung: RLCU 0610 691559; số máy: 3D4E-719688, đã qua sử dụng. Kết quả xác minh: Chiếc xe trên do anh Trần Thành N (Sinh năm 1996: Nơi cư trú: 75/9 Bình Qưới, Phường 27, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh) là chủ sở hữu. Anh N khai Tùng là anh em bà con, thường xuyên gặp Tùng, thường cho Tùng mượn xe đi công việc, sự việc Tùng mượn xe để đi cướp tài sản anh N không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã trả lại cho anh Trần Thành N là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu phone X, màu đen, số mei: 356720082604946, 256 b, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã trả lại cho anh Nguyễn Sĩ Toàn là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 (điện thoại) di động hiệu phone 6, màu vàng, số mei: 359480084564831, đã qua sử dụng. Các bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc với nhau trong việc đi cướp giật tài sản. Do đó, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Sĩ Toàn đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận T bộ hành vi của mình như trên, đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKSQ2 ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố các bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q về tội Cướp giật tài sản theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thừa nhận T bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án do Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q thực hiện vào khoảng 16 giờ ngày 04/12/2018, Theo đó, Q điều khiển xe mô tô biển số 59S2-950.84 chở T thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Lợi dụng sơ hở của bị hại là anh Nguyễn Sĩ T đang tập trung sử dụng điện thoại không có sự đề phòng tại trước địa chỉ số 89 Xuân Thủy, Khu phố 2, phường Thảo Điền, Quận 2 Q điều khiển xe mô tô áp sát vào người anh T để T ngồi phía sau giật điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Theo Kết luận định giá số 414/HĐĐTS-TCKH ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận thì Chiếc điện thoại di động hiệu phone X, màu đen, số mei: 356720082604946, 256 b, đã qua sử dụng có trị giá 20.290.000đ (hai mươi triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng). Do đó, hành vi của Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp giật tài sản" và cần phải xử lý nghiêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q phạm tội "Cướp giật tài sản".

Áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

Áp dụng Điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Hoàng Q từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Quá trình bị tạm giam bị cáo đã biết lỗi của mình, rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi:

[1.1] Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan toàniến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan toàniến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Trong quá trình điều tra và và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q thừa nhận vào khoảng 16 giờ ngày 04/12/2018 các bị cáo rủ nhau đi cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu sài, Theo đó, Q điều khiển xe mô tô biển số 59S2-950.84 chở T thực hiện hành vi cướp giật tài sản của anh Nguyễn Sĩ T tại trước địa chỉ số 89 Xuân Thủy, Khu phố 2, phường Thảo Điền, Quận 2 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Theo Kết luận định giá số 414/HĐĐTS- TCKH ngày 19/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, kết luận thì Chiếc điện thoại di động hiệu phone X, màu đen, số mei: 356720082604946, 256 b, đã qua sử dụng có trị giá 20.290.000đ (hai mươi triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng).

[1.3] Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn Bị cáo T là người chủ động điện thoại rủ bị cáo Q đi cướp giật tài sản để l y tiền tiêu sài, Q đồng ý. Theo đó, Q điều khiển xe máy với vai trò là người giúp sức tích cực cho T áp sát bị hại, T là người trực tiếp thực hiện việc công khai cướp giật tài sản. Sau khi thực hiện xong thì chở đồng bọn nhanh chóng tẩu thoát.

[1.4] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q đã phạm vào tội "Cướp giật tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.

[1.5] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng N dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, không chỉ để cải tạo giáo dục bị cáo mà còn để răn đe những người khác, phòng ngừa chung cho xã hội.

[2] Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

Các bị cáo sử dụng phương tiện là xe gắn máy để thực hiện hành vi phạm tội nên vi phạm tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Đặng Hoàng Q thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm i, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần phải áp dụng đối với các bị cáo.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Xét sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình.

[4]Về vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu phone X, màu đen, số mei: 356720082604946, 256 b, đã qua sử dụng là tài sản riêng của anh Nguyên Sĩ T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Toàn.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 59S2-950.84, hiệu amaha Exciter, màu trắng, đỏ, đen, số khung: RLCU 0610 691559; số máy: 3D4E-719688. Kết quả xác minh: Chiếc xe trên do anh Trần Thành N là chủ sở hữu. Anh N khai Tùng là anh em bà con, thường xuyên gặp Tùng, thường cho Tùng mượn xe đi công việc, sự việc Tùng mượn xe để đi cướp tài sản anh N không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Trần Thành N.

Đối với 01 (điện thoại) di động hiệu phone 6, màu vàng, số mei: 359480084564831, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Q. đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Do đó, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Sĩ T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q phạm tội "Cướp giật tài sản".

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

- Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng Q: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Đối với 01 (điện thoại) di động hiệu phone 6, màu vàng, số mei: 359480084564831, đã qua sử dụng.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKSQ2 ngày 06/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Thanh T và Đặng Hoàng Q mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.


71
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 42/2019/HSST ngày 16/07/2019 về tội cướp giật tài sản

    Số hiệu:42/2019/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 2 - Hồ Chí Minh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:16/07/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về