Bản án 17/2019/HS-ST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bồ Xuân H - Sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Thôn ĐL, xã ThL, huyện VC, tỉnh YB; nơi cư trú: Xóm 2 QTh, xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bồ Xuân T (đã chết) và bà Lê Thị Ng - Sinh năm 1958; vợ là Vũ Thị Th - Sinh năm 1988. Hiện bán hàng và trú tại xóm 2 QTh, xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ. Có 01 con sinh năm 2013. Tiền án , tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tính từ ngày bị bắt tạm giữ 04/12/2018 hiện bị cáo đang tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Văn Đ - Sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm 14, xã HS, huyện GT, tỉnh NĐ.

+ Anh Phạm Ngọc T - Sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 16, xã HS, huyện GT, tỉnh NĐ.

+ Ông Mai Văn Đ- Sinh năm 1959.

+ Chị Vũ Thị Th - Sinh năm 1988;

Đều có địa chỉ: Xóm 2 QTh, xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ.

Tại phiên tòa: Có mặt bị cáo H và chị Thanh; người làm chứng còn lại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 04/12/2018, tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm 8, xã HS, huyện GT phát hiện Bồ Xuân H điều khiển xe máy BKS: 18G1-00056 có biểu hiện nghi vấn (cất giấu trái phép chất ma túy). Tổ công tác yêu cầu Bồ Xuân H dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác thu giữ trong túi quần đùi bên phải đang mặc của H có 02 gói nhỏ gói bằng giấy báo bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. H khai đó là 02 gói Heroine H vừa mua để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu M. Ngoài ra tổ công tác còn thu của H 01 xe máy BKS: 18Gl-00056 đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 04/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số ma túy đã thu giữ gửi đi giám định. Tại bản kết luận giám định số: 1065/GĐKTHS ngày 06/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02(hai) gói giấy báo nhỏ được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Heroine. Tổng trọng lượng (khối lượng) mẫu M: 0,171gam.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Giao Thủy, cũng như tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 13/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Bồ Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Bồ Xuân H đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 02 gói Heroine có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,171gam mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bồ Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bồ Xuân H từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Bồ Xuân H nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 9 giờ 30 phút 04/12/2018, Tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Bồ Xuân Hđã có hành vi cất giấu trái phép 02 gói Heroine có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,171gam, bị cáo khai đi mua về để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn tới phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo cất giấu để sử dụng cho bản thân. Bị cáo khai mua với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực ngã ba dốc HN xã GT, huyện GT. Quá trình điều tra không xác định được người đã bán ma túy cho bị cáo Hnên không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01xe máy BKS: 18G1-00056 thu giữ của Bồ Xuân H, H khai là tài sản chung của vợ chồng Hùng, đăng ký mang tên chị Vũ Thị Th (là vợ của H). Chị Th không biết H sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Th là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bồ Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Bồ Xuân H 21(Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bồ Xuân H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Bồ Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về