Bản án 163/2018/DS-ST ngày 24/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 163/2018/DS-ST NGÀY 24/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 587/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2018/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018;

1. Nguyên đơn: Công Ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng VNTV.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 ĐB, Phường 12, Quận 4, Tp.HCM.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành Viên của Công Ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Mỹ H - Chức vụ: Trưởng nhóm tố tụng-Phòng Thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm thu hội nợ - Khối quản trị rủi ro - Công Ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV (Văn bản ủy quyền số 80/UQ-VH.18 ngày 13/6/2018)

Bà Phạm Thị Mỹ H ủy quyền lại cho bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1996; Địa chỉ: đường số , khu dân cư NL, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia tố tụng. (Theo văn bản ủy quyền số 1394/UQTA-VH.18 ngày 30/8/2018) (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Lưu Xuân C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: ấp 1, xã H, huyện N, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2018, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công Ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV (viết tắt là Công ty Tài chính) do bà Nguyễn Kim T làm đại diện trình bày: Ngày 21/9/2015, bà Lưu Xuân C có ký hợp đồng tín dụng số 20150921-103046-0001 với Công ty Tài chính vay số tiền 43.320.983 đồng (Bốn mươi ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng chẵn) đồng với lãi suất thoả thuận 4.59%/ tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Lưu Xuân C có trách nhiệm thanh toán số tiền 66.890.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 19 tháng, 18 tháng đầu, mỗi tháng trả 3.466.000 đồng, tháng cuối cùng 4.502.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/11/2015.

Thực hiện hợp đồng này, bà C đã nhận đủ số tiền vay để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính 03 kỳ tổng cộng số tiền là 10.461.000 đồng. Kể từ ngày 08/01/2016 cho đến nay, bà Lưu Xuân C không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty Tài chính đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do bà Lưu Xuân C trễ hạn thanh toán, Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng VNTV khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm các khoản sau:

Trả toàn bộ khoản nợ gốc: 39.189.247 đồng.

Trả toàn bộ khoản nợ lãi: 17.239.753 đồng.

Tổng số tiền Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng VNTV khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lưu Xuân C phải thanh toán là: 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng). Các khoản lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên đã chấm dứt không còn phát sinh nữa.

Tại bản tự khai ngày 11/10/2018, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lưu Xuân C trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của đại diện nguyên đơn về thời gian ký hợp đồng, về số tiền đã vay và số lần bà đã trả nợ. Bà thống nhất số tiền nợ còn lại mà đại diện nguyên đơn yêu cầu là 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng). Trong đó nợ gốc là 39.189.247 đồng, nợ lãi là 17.239.753 đồng, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng trả một lần hết số tiền nợ cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng VNTV. Bà xin được giảm tiền nợ lãi và xin trả dần mỗi tháng trả 500.000 đồng cho Công ty Tài chính cho đến khi hết nợ.

Tại phiên Tòa, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện của nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và xác định hình thức cho vay là loại hình Công ty tài chính cho vay trả góp hàng tháng, đã được tính tiền lãi vào số tiền dư nợ gốc ban đầu nên trong giai đoạn thi hành án bà Lưu Xuân C không phải trả thêm tiền lãi trên số tiền còn nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV khởi kiện yêu cầu bà Lưu Xuân C phải thanh toán số tiền nợ vay 56.429.000 đồng (gồm nợ gốc và nợ lãi) từ hợp đồng tín dụng số hợp đồng tín dụng số 20150921-103046-0001 ngày 21/9/2015. Do tranh chấp giữa tổ chức với cá nhân, bị đơn là bà Lưu Xuân C cư trú tại xã H, huyện N, tỉnh Long An. Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về cho vay tài sản” mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tòa án huyện N thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Long An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn là bà Lưu Xuân C có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Căn cứ theo lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ của đại diện nguyên đơn được bị đơn thừa nhận thì xác định giữa Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV và bà Lưu Xuân C có xác lập hợp đồng tín dụng số 20150921-103046-0001 ngày 21/9/2015 và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 56.429.000 đồng, trong đó nợ gốc là 39.189.247 đồng, nợ lãi là 17.329.753 đồng là có thật. Vì vậy, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.2] Bà Lưu Xuân C thừa nhận còn nợ Công ty Tài chính số tiền nợ gốc và lãi là 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng), nhưng bà C xin được giảm tiền lãi và xin trả dần mỗi tháng là 500.000 đồng vào số tiền còn nợ cho đến khi hết nợ, nhưng yêu cầu này không được đại diện của nguyên đơn đồng ý, mặt khác pháp luật cũng không có quy định nào cho phép bên vi phạm nghĩa vụ trả nợ được trả dần, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

[3.3] Do bà Lưu Xuân C vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 20150921-103046-0001 ngày 21/9/2015 nên Công ty Tài chính khởi kiện yêu cầu bà Chiều phải thanh toán nợ gốc, nợ lãi tổng cộng là 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Về mức lãi suất cho vay là 4.59%/tháng và cách tính lãi theo thỏa thuận giữa Công ty Tài Chính với bà C được áp dụng đúng như hai bên thỏa thuận trong văn bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150921- 103046-0001 ngày 21/9/2015 là đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 11 quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001, được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 127/2005/QĐ- HNNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) nên có căn cứ chấp nhận.

[3.5] Về lãi suất chậm thi hành án: Đại diện Công ty Tài chính đã xác định đây là loại hình cho vay trả góp hàng tháng, đã được tính tiền lãi vào số tiền dư nợ gốc ban đầu nên trong giai đoạn thi hành án, bà Lưu Xuân C không phải trả thêm tiền lãi trên số tiền còn nợ.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị đơn là bà Lưu Xuân C phải chịu 2.821.500 đồng (đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Nguyên đơn không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Khoản 16 Điều 4, Điều 11, Điều 91, Điều 93, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Mục 3 phần I Thông tư liên tịch 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính – TAND Tối cao – VKSND Tối cao hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV đối với bà Lưu Xuân C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Lưu Xuân C phải trả cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV số tiền nợ vay là 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng), trong đó, nợ gốc là 39.189.247 đồng, nợ lãi là 17.329.753 đồng.

2. Về lãi suất chậm thi hành án: Đại diện Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng Việt VNTV đã xác định đây là loại hình cho vay trả góp hàng tháng, đã được tính tiền lãi vào số tiền dư nợ gốc ban đầu nên trong giai đoạn thi hành án, bà Lưu Xuân C không phải trả thêm tiền lãi trên số tiền còn nợ.

3. Về án phí:

3.1 Buộc bà Lưu Xuân C phải nộp 2.821.500 đồng (Hai triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm đồng, đã làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

3.2 Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân Hàng VNTV là 1.411.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười một nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003321 ngày 18/9/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

4. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về