Bản án 152/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 152/2019/HS-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2019/TLST-HS ngày 12/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2019/QĐXXST-HS ngày 14/11/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn M, xã T, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Đặng Thị P; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 và 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/03/2009 Công an huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi: “Gây rối trật tự công cộng”; bị bắt, tạm giữ ngày 10/9/2019, tạm giam từ ngày 16/9/2019 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/9/2019, Nguyễn Văn Q điều khiển xe môtô BKS: 90F8-99.. từ nhà đi đến thành phố Phủ Lý mc đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ Quốc lộ 1A thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, Q gặp một nam thanh niên khoảng 20 tuổi (Q không biết tên, địa chỉ cụ thể), Q hỏi: “Có chỗ nào lấy hàng không, lấy cho anh ít hồng” (ý Q muốn nhờ người nam thanh niên mua hộ ma túy tổng hợp) thì người đó trả lời:“Em có mấy viên anh có chơi thì lấy”. Q nói: “Anh còn có một trăm thôi” rồi lấy ra 100.000 đồng đưa cho người thanh niên, người này cầm tiền của Q rồi đưa cho Q 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết đó là gói ma túy, Q liền cầm lấy giữ trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực bờ kè sông Đáy thuộc tổ dân phố Hồng Phú, png Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì Q dừng lại, mở gói giấy bạc vừa mua được ra lấy một ít cục nhỏ màu hồng đỏ cho vào giấy bạc rồi đốt lên và hít, số còn lại Q gói lại cất vào túi quần thì ngay lúc đó bị tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Tại chỗ, Q tự giác lấy giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu hồng đỏ dạng cục và khai nhận đó là ma túy, cất giấu mục đích để sử dụng.

Vật chứng, tài sản thu giữ của Nguyễn Văn Q gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu hồng đỏ dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 90F8-99...

Tại bản Kết luận giám định số 163/PC09-MT ngày 13/9/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu hồng đỏ dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,281 gam, loại Methamphetamine”.

Bản cáo trạng số 151/CT-VKS-PL ngày 12/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Nguyễn Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lý lịch tư pháp của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/9/2019, tại khu vực tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn Q bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,281 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi ca bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu do từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Gây rối trật tự công cộng” (đã hết thời hạn được coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có người thân (bố, mẹ đẻ) đều là thương binh, là người có công trong cuộc kháng chiến của dân tộc nên bị cáo sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.

[6] Đối với người nam thanh niên theo bị cáo khai gặp ở khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ Quốc lộ 1A thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là người đã bán ma túy cho bị cáo để sử dụng và cất giấu, do Cơ quan điều tra không xác định được đặc điểm nhân thân, địa chỉ của người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.

[7] Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng sẽ tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra đã xác định đó là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nay sẽ trả lại cho bị cáo.

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 90F8-99.., quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn B, anh B giao xe chị Nguyễn Thị H (chị dâu bị cáo) mượn để sử dụng, khi cho Nguyễn Văn Q mượn lại chiếc xe, chị H đã không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ trả lại tài sản này cho anh B.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 163/PC09-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số IMEI1: 869035049949817, số IMEI2: 869035049949809.

- Trả lại cho anh Hoàng Văn B 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát: 90F8-99.., số máy: 445VN101439, số khung: 050101439.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 15/11/2019.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Q nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:152/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về