Bản án 138/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 138/2019/HS-ST NGÀY 24/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2019/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 725/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2019 đối với bị cáo:

Võ Văn M (có tên gọi khác là Võ Văn M1) sinh ngày 02/01/1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CMND: 0216030** do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/3/1980; Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện không nơi cư trú nhất định; Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn N2 và bà Nguyễn Thị X; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Lê Thị Hồng H và có 02 người con, lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 14 tuổi; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/3/1982, bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 03 tháng tù (Bản án số 55/HSST ngày 21/5/1982); Từ năm 2003 đến năm 2007 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Nghị định số 34/2002/NĐ-CP. Bị tạm giam từ ngày 17/5/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1970; Địa chỉ: 289/47K đường T, Phường X, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên vào ngày 17/5/2019, Võ Văn M điều khiển xe gắn máy biển số 59C1-905.** đến hẻm số 186 đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 để tìm mua ma túy. Tại đây, M mua 01 gói ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 400.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, M cất gói ma túy vào túi áo phía trước bên phải đang mặc rồi quay về. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi M đang điều khiển xe đến cửa hàng tiện lợi số 65C Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1 thì bị các anh Trần Thanh L (Công an phường Cầu Ông Lãnh) và Huỳnh Công Quốc Đ (Bảo vệ dân phố) đang đi tuần tra phát hiện M có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo phía trước bên phải M đang mặc có 01 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong có chất bột trắng (M khai là ma túy mua để sử dụng) nên tổ kiểm tra đã tiến hành bắt giữ M cùng vật chứng giao Công an phường Cầu Ông Lãnh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý (BL: 23, 24; 38-39), Theo Kết luận giám định số 1116/KLGĐ-H ngày 24/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5966g (không phẩy năm chín sáu sáu gam), loại Heroine (BL:72).

Quá trình điều tra, Võ Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của M phù hợp với lời khai nhân chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Vật chứng: 01 gói niêm phong bên trong có 0,5966 gam ma túy ở thể rắn loại Heroine.

- Thu giữ của Võ Văn M: 01 xe gắn máy biển số: 59C1-905.**, qua xác minh xe do bà Lê Thị Hồng H đứng tên chủ sở hữu, ngày 17/5/2019 bà H cho M mượn xe để đi công việc, bà H không biết việc M sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại xe cho bà H; 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Samsung. Hiện các vật chứng trên hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ (BL: 87, 88), Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSQ1 ngày 23 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù và phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo khả năng thi hành án.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của bị cáo Võ Văn M tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định số 1116/KLGĐ – H ngày 24/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã đủ cơ sở kết luận: Võ Văn M là đối tượng nghiện ma túy và đã có hành vi cất giữ 0,5966g (không phẩy năm chín sáu sáu gam) ma túy ở thể rắn loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Võ Văn M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vì nghiện ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội. Đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung là phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[4] Kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, khi nào có đủ cơ sở tiếp tục xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 xe gắn máy biển số: 59C1-905.**, qua xác minh xe do bà Lê Thị Hồng H đứng tên chủ sở hữu, ngày 17/5/2019 bà H cho bị cáo mượn xe để đi công việc và không biết việc M sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã trả lại phương tiện trên cho bà H là có căn cứ. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo khả năng thi hành án. Đối với số ma túy còn lại sau giám định là chất ma túy độc hại cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Văn M (còn có tên gọi khác là Võ Văn Mót) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1, Khoản 5 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Võ Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 24/9/2019.

Phạt tiền bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 353669068495907, số Imei 353669068495915 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 35564407293617/8, số Imei 35564407293617/5 nhưng tạm giữ để đảm bảo khả năng thi hành án. Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong ghi số vụ 1116/2019Q1 (Phiếu nhập kho vật chứng số 207/PNK ngày 06/6/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số 214-19/PNK ngày 27/6/2019 của Công an Quận 1).

- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 138/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:138/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 1 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về