Bản án 133/2020/HNGĐ-ST ngày 29/05/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 133/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2020/TLST-HNGĐ ngày 04/02/2020 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 101/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1969.

- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 04/02/2020 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào ngày 25/12/1987 bà M và ông K tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn (theo xác nhận ngày 03/02/2020 của UBND xã K). Trong quá chung sống giữa bà M và ông K có 04 con chung tên Lê Văn Đ, sinh năm 1989, Lê Ngọc Y, sinh năm 1991, Lê Ngọc T, sinh năm 1993, Lê Béc K, sinh năm 1998.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải với nhau, ông K thường đánh đập bà M, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà M yêu cầu được ly hôn với ông K. Về con chung đã trưởng thành, tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn Lê Văn K: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, 02 lần để xét xử, nhưng ông K đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà M xác định mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông K mâu thuẫn trầm trọng, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà M khởi kiện ông K về việc ly hôn và ông K có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về thủ tục: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét về mối quan hệ hôn nhân và yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy bà M và ông K tự nguyện sống chung với nhau và đủ điều kiện kết hôn thì phải đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch, nhưng bà M và ông K không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, do đó căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 không công nhận bà M và ông K là vợ chồng là phù hợp.

[4] Xét về con chung: Đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét về tài sản chung và nợ chung: Bà M cho rằng tài sản chung và nợ chung vợ chồng tự thỏa thuận, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K, nên không có căn cứ làm rõ phần tài sản chung và nợ chung giữa bà M và ông K. Do đó, cần tách phần tài sản chung và nợ chung ra, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

[6] Xét về án phí: Bà M phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, số tiền tạm ứng án phí bà M đã dự nộp trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc M.

- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc M và ông Lê Văn K là vợ chồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà M phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, bà M đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số 0003200 ngày 04/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về