Bản án 79/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 79/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 376/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2019/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé N, sinh năm: 1984; Địa chỉ: khu phố N, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Hoàng S, sinh năm 1977; Địa chỉ: khu phố N, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Bé N trình bày:

Bà và ông Đỗ Hoàng S sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 06/01/2006. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu nhưng sau đó, bà N phát hiện ông S bài bạc gây nên nợ nần nhiều lần dù đã khuyên ngăn mà ông S không thay đổi. Đỉnh điểm mâu thuẫn là năm 2019 thì ông S nợ nần lên đến vài trăm triệu, bà N phải cầm cố nhà đất để trả nợ thay cho ông S. Bà đã suy nghĩ rất nhiều để gìn giữ hạnh phúc gia đình, chăm lo cho con cái nhưng ông S không những không cùng bà xây dựng gia đình mà bà phải thêm gánh nặng nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc. Nay bà và các con đã dọn ra ở riêng, vợ chồng đã ly thân, tình cảm của bà dành cho ông S không còn, đồi sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Đỗ Hoàng S.

Về con chung: Bà N và ông S có 02 con chung là Đỗ Hoàng H, sinh ngày 17/4/2000 (đã trưởng thành) và Đỗ Hoàng H1, sinh ngày 26/5/2012. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Đỗ Hoàng S được biết. Trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông S vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: bị đơn ông Đỗ Hoàng S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; nguyên đơn, bà Trần Thị Bé N có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị vẫn tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu của bà Trần Thị Bé N xin ly hôn với ông Đỗ Hoàng S là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà N được ly hôn với ông S; Về con chung: theo nguyện vọng của con chung, đề nghị giao 02 con cho bà N nuôi dưỡng, ghi nhận việc không yêu cầu cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Bà N phải chịu án phí theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị Bé N yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Hoàng S, bị đơn đang cư trú tại thành phố Bà Rịa, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bé N và ông Đỗ Hoàng S tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 06/01/2006 của Ủy ban nhân dân phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà N thì trong quá trình chung sống, giữa bà và ông S đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, ông S nhiều lần bài bạc, gây nợ nần dù bà N nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông vẫn không quan tâm đến gia đình, vợ con nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không quan tâm đến nhau nên không thể duy trì cuộc hôn nhân này được Na.

Quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông S, tại thông báo có nêu rõ yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà bà N đã giao nộp cho Tòa án, đồng thời đã nhiều lần triệu tập ông S đến Tòa án để ông trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà N; cũng như thông báo để ông S tham gia các phiên hòa giải nhưng ông S đều vắng mặt không có lý do. Như vậy lời khai của bà N về việc gia đình mâu thuẫn, không có hạnh phúc là có cơ sở. Việc ông S không đến Tòa án để làm việc, để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đã chứng minh ông không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[2.2] Về con chung: Bà N, ông S có 2 con chung tên Đỗ Hoàng H, sinh ngày 17/4/2000 (đã trưởng thành) và Đỗ Hoàng H1, sinh ngày 26/5/2012 đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng nên chấp nhận yêu cầu của bà N được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.5] Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Bé N được ly hôn với ông Đỗ Hoàng S.

2. Về con chung: Có 2 con chung tên Đỗ Hoàng H, sinh ngày 17/4/2000 và Đỗ Hoàng H1, sinh ngày 26/5/2012, cháu H đã trưởng thành, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Giao con chung tên Đỗ Hoàng H, sinh ngày 26/5/2012 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi trưởng thành (18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Bé N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số TU/2019/0000812 ngày 19/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà N đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án đê yêu câu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thu tuc phúc thẩm . Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết


35
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 79/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

      Số hiệu:79/2019/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bà Rịa - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:29/11/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Án lệ được căn cứ
             
            Bản án/Quyết định phúc thẩm
              Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về