Bản án 118/2019/HS-ST ngày 18/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 118/2019/HS-ST NGÀY 18/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2019/TLST- HS ngày 17 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2019/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: An Viết Q (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979,tại xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn 1, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông An Viết Th ( đã chết) và bà Bùi Thị B; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không ;

Tiền sự : Ngày 22/01/2019 Công an thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ra quyết định số 52/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với An Viết Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy số tiền 1.000.000 đồng. Ngày 17/04/2019 gia đình bị cáo đã nộp thay cho bị cáo số tiền phạt;

Nhân thân : Bản án số 36/HSST ngày 20/8/2003 Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt An Viết Q 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy ; Bản án số 117/2010/HSST ngày 07/9/2010 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt An Viết Q 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ; Ngày 08/02/2014 Công an xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình ra quyết định số 05/ QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 500.000 đồng ; Ngày 27/9/2016 Công an phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình ra quyết định số 50/QĐ-XPVPHCxử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 500.000 đồng; Ngày 07/12/2016 Công an phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình ra quyết định số 01 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 750.000 đồng ; Ngày 03/3/2017 Công an xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình ra quyết định số 19/QĐXPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 750.000 đồng ; Các án tích và xử phạt vi phạm hành chính của bị cáo đã được xóa;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2019 đến ngày 23/8/2019. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo tiếp tục phạm tội và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình trong vụ án khác đến nay (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Hồ Vy N, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Hi 10 giờ 15 phút, ngày 28/3/2019 Tổ công tác Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ tại ngõ 463, đường Lê Thái Tổ, phố Tuệ Tĩnh, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình phát hiện An Viết Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B2-404.34 loại Wave màu đen có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác đã ra tín hiệu yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra An Viết Q biết không che giấu được hành vi của mình đã tự giác giao nộp từ tay phải cho Tổ công tác 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đây là gói ma túy loại Heroine mà Q vừa nhờ một người thanh niên mua ở bên đầu cầu Non nước thuộc xã Yên Bằng ,huyện Ý Yên,tỉnh Nam Định với giá 200.000 đồng về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định và đưa An Viết Q cùng tang vật, những người liên quan về trụ sở Công an phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình lập biên bản vi phạm hành chính, ngoài ra còn thu giữ của Q 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B2-404.34 loại Wave màu đen, 1 điện thoại di động màu đen viền đỏ hiệu GIONEE B168.

Cơ quan Công an tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của An Viết Q có khối lượng là 0,095 gam ký hiệu M gửi đi giám định để xác định loại ma túy và khối lượng chất ma túy.

Ti bản kết luận giám định số 125/KLGĐ- PC09 - MT ngày 02/4/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đã kết luận “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0956 gam là ma túy, loại Heroine” (Heroine là chất ma túy thuộc bảng danh mục I có số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ). Số heroine thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,0548 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong , Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý để giải quyết cùng vụ án.

Quá trình điều tra An Viết Q khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Q đã điều khiển xe mô tô từ nhà sang khu vực đầu cầu Non nước, thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định để mua ma túy loại Heroine. Khi đến nơi Q đã gặp và nhờ một nam thanh niên không quen biết mua hộ 200.000 đồng Heroine. Người thanh niên cầm tiền của Q đi đâu đó khoảng 5 phút sau thì quay lại đưa cho Q 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, Q mở ra kiểm tra thì thấy bên trong là Heroine dạng cục màu trắng. Q gói lại và cầm ở tay phải sau đó điều khiển xe về Ninh Bình tìm chỗ sử dụng. Khi về đến Ninh Bình thì Q bị Tổ công tác phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Quá trình điều tra để xác định tiền sự, năm sinh của bị cáo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký dạng chữ viết, chữ viết “Q, An Viết Q” dưới mục bên nhận trong biên bản giao nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính đề ngày 22/01/2019 ký hiệu A so với chữ ký dạng chữ viết bên dưới “Q, An Viết Q” tại các bản kiểm điểm đề ngày 27/2/2017 và ngày 30/3/2019, biên bản ghi lời khai ngày 27/2/2017, ngày 25/4/2019 ký hiệu từ M1 đến M4 có phải do cùng một người ký, viết ra không? Tại kết luận giám định số 19/KLGĐ-PC09-TL ngày 22/5/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đã kết luận “ Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết “Q - An Viết Q” dưới mục bên nhận trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của An Viết Q trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 là do cùng một người viết ra”. Về năm sinh của bị cáo trong các quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các bản án trước đây đều thể hiện An Viết Q, sinh năm 1978; trong giấy khai sinh, sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân thể hiện An Viết Q, sinh năm 1979; Công an xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình cung cấp An Viết Q, sinh năm 1978 và An Viết Q, sinh năm 1979 là một người và bà Bùi Thị B là mẹ đẻ của An Viết Q, sinh nặm 1979.

Tại bản cáo trạng số 123/CT- VKS, ngày 16 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo An Viết Q ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo An Viết Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm r,s,x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo An Viết Q từ 12 đến 15 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định cùng giấy gói ban đầu trong một phong bì niêm phong; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sư sơ thẩm cho bị cáo An Viết Q.

Tại phiên tòa bị cáo An Viết Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về lý lịch của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân... và kết luận giám định 19/KLGĐ-PC09-TL ngày 22/5/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, Hội đồng xét xử xác định An Viết Q, sinh năm 1978, An Viết Q, sinh năm 1979 là cùng một người và An Viết Q, sinh năm 1979 là đúng.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo An Viết Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định số 125/KLGĐ- PC09 - MT ngày 02/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/3/2019 tại khu vực ngõ 463, đường Lê Thái Tổ, phố Tuệ Tĩnh, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình bị cáo An Viết Q đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp trong người 0,0956 gam ma túy loại Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ, tuy khối lượng ma túy loại Heroine của bị cáo chưa đủ 0,1 gam nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà bị cáo lại tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác…Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; có nhân thân xấu, đã nhiều bị xử phạt hành chính , bị kết án về tội phạm liên quan đến ma túy nhưng bị cáo không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục cố ý phạm tội nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; khi bị công an yêu cầu kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy, bị cáo là con liệt sỹ đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q có 02 đơn xin xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn,đang nuôi mẹ già yếu, ốm đau, hiện đang mắc bệnh HIV/AIDS giai đoạn cuối để xin giảm nhẹ hình phạt nhưng đây không phải là các tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong thời gian bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 04/6/2019 bị cáo lại tiếp tục phạm tội và bị khởi tố, truy tố, tạm giam theo lệnh tạm giam số 97 ngày 25/07/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình, hiện vụ án đang do Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình thụ lý giải quyết đến nay chưa xét xử nên trong vụ án này Hội đồng xét xử không quyết định tạm giam đối với bị cáo. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt thi hành án.

[4] Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo khai nhờ một nam thanh niên không quen biết mua ở khu vực đầu cầu Non nước, thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, bị cáo không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể của người thanh niên mua hộ ma túy cho mình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ để xử lý.

- Vật chứng của vụ án: Số ma túy, loại heroine thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,0956 gam, sau khi lấy mẫu giám định (không hoàn trả mẫu vật) số còn lại 0,0548 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.Tất cả được niêm phong trong một phong bì mặt trước ghi số 125/KLGD-PC09-MT.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B2-404.34 loại Wave màu đen thu giữ của bị cáo An Viết Q: quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản hợp pháp của ông Bùi Đức L, sinh năm 1966, trú tại: Thôn 1, xã N , thành phố N ( anh em họ của bị cáo ), ngày 28/3/2019 bị cáo Q mượn xe của ông L nói đi có việc riêng, ông L không biết việc Q mượn xe để đi mua ma túy nên không vi phạm. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông L là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Đối với chiếc điện thoại di động màu đen viền đỏ hiệu GIONEE B168 thu giữ của bị cáo An Viết Q: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản của bị cáo Q không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh An Viết Q1, sinh năm 1975; Trú tại : Thôn P, xã N, thành phố N ( anh trai của bị cáo) được bị cáo ủy quyền nhận lại tài sản là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng do bị cáo là con của liệt sỹ An Viết Th được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo được miễn nộp tiền án phí. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm r,s,x khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo An Viết Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo An Viết Q 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Việc xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, mặt trước ghi số 125/KLGD-PC09-MT (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/9/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

Về án phí: Bị cáo An Viết Q được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án .

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư- ời được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2019/HS-ST ngày 18/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:118/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về