Bản án 11/2019/DS-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 11/2019/DS-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2019/TLST-TCDS ngày 03 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C; địa chỉ: tòa nhà C, khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng Giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng P - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Theo Quyết định số 1792/QĐ- NHCS ngày 09/6/2015).

2. Bị đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn K, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

3. Người làm chứng: Bà Cao Thị N; địa chỉ: thôn K, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Hồng P có mặt, chị Mai Thị H và bà Cao Thị N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C trình bày:

Ngày 04/8/2012 chị Mai Thị H thuộc diện hộ nghèo đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 0,65%/tháng, hạn trả cuối cùng ngày 26/6/2018 theo hợp đồng tín dụng số 6000003000013773, mục đích vây để chăn nuôi bò sinh sản.

Ngày 20/7/2015 chị H đề nghị gia hạn nợ lần 1 được Ngân hàng phê duyệt gia hạn nợ 12 tháng từ ngày 04/8/2015 đến ngày 04/8/2016. Ngày 03/7/2016 chị H đề nghị gia hạn nợ lần 2 được Ngân hàng phê duyệt gia hạn nợ 3 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 26/10/2016. Khi hết hạn trả nợ, chị H vẫn không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng chính sách xã hội đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 17/7/2018.

Để thu hồi vốn cho Nhà nước, đại diện cho Ngân hàng C đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Mai Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền 36.647.652 đồng, trong đó nợ gốc 30.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 6.647.652 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/7/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Mai Thị H trình bày: Ngày 04/8/2012 chị H thừa nhận đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng C số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 0,65%/tháng theo Hợp đồng tín dụng số 6000003000013773, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 26/6/2018. Sau khi nhận tiền chị H đã đưa số tiền vay được cho bà Cao Thị N sử dụng, khi nào bà N trả cho chị số tiền trên thì chị H sẽ trả nợ cho Ngân hàng. Hiện tại hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chị H chưa có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã chấp hành pháp luật nhưng tại phiên tòa sơ thẩm chị Mai Thị H và bà Cao Thị N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Mai Thị H và bà cao Thị N là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch không có kiến nghị đối với vụ án này.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Mai Thị H phải trả nợ cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/9/2019) tổng cộng số tiền là 36.647.652 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 6.647.652 đồng; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn chị Mai Thị H có nơi cư trú tại thôn K, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng chị Mai Thị H và bà Cao Thị N vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn chị Mai Thị H và người làm chứng bà Cao Thị N.

[2] Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quảng Trạch và chị Mai Thị H đã giao kết Hợp đồng tín dụng số 6000003000013773 vào ngày 04/8/2012. Theo Hợp đồng tín dụng chị H đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng C số tiền 30.000.000 đồng theo chương trình cho vay Hộ nghèo, 0,65%/tháng, hạn trả cuối cùng ngày 26/6/2018. Trên cơ sở Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho chị H vay như thỏa thuận. Như vậy, Hợp đồng tín dụng giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật vì vậy phát sinh hiệu lực.

Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và phía bị đơn thừa nhận, thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Mai Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn và quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết. Bảng tính lãi trong hạn và lãi quá hạn do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng tín dụng.

Xét lời trình bày của chị Mai Thị H, sau khi nhận tiền từ Ngân hàng chị H đã đưa cho bà Cao Thị N sử dụng số tiền 30.000.000 đồng. Theo địa chỉ chị H cung cấp, Tòa án đã tống đạt, triệu tập nhiều lần đối với bà Cao Thị N nhưng bà N không có mặt tại Tòa án. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, hiện tại bà Cao Thị N đã rời đi khỏi địa phương, không rõ tin tức, địa chỉ. Tòa án đã yêu cầu chị H cung cấp địa chỉ mới của bà N nhưng chị H không cung cấp được và không biết được bà N hiện đang làm gì và ở đâu. Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q với chị Mai Thị H đã giao kết Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng hợp pháp nên phát sinh hiệu lực thi hành. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng cho chị H vay. Chị H đã thừa nhận trực tiếp ký nhận tại “phiếu chi”, nhận tiền từ Ngân hàng, ký trong sổ vay vốn, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và giấy đề nghị gia hạn nợ. Do đó, việc chị H trình bày đã đưa số tiền 30.000.000 đồng cho bà N sử dụng là không có cơ sở được chấp nhận. Trong trường hợp chị Mai Thị H có vay tiền từ Ngân hàng rồi cho bà Cao Thị N vay lại và có chứng cứ thì chị H có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng một vụ án khác theo quy định, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C, buộc chị Mai Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ 36.647.652 đồng, trong đó nợ gốc 30.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 6.647.652 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/9/2019), chị Mai Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy chị Mai Thị H phải chịu toàn bộ án phí vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị Mai Thị H và người làm chứng bà Cao Thị N.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn chị Mai Thị H.

Buộc chị Mai Thị H phải trả cho Ngân hàng C số tiền 36.647.652 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng), trong đó nợ gốc 30.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 6.647.652 đồng. 

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019), chị Mai Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”

2. Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu 1.832.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2019). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại UBND xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/DS-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:11/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Trạch - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về