Bản án 07/2019/DS-ST ngày 11/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 07/2019/DS-ST NGÀY 11/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2019/TLST-DS ngày 16/5/2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXX-ST ngày 20/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ

Địa chỉ: 130 P, phường 3, quận P, Tp H

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T1 – Tổng Giám đốc (Quyết định ủy quyền số 122/QĐ - DAB - HĐQT ngày 27/4/2016)

Người đại diện theo ủy quyền thứ 2: Ông Trần Văn Gi – Giám đốc Chi nhánh Thái Bình – phòng giao dịch Đông Hưng.

(Quyết định ủy quyền số 636/QĐ-DAB-PC ngày 22/5/2018)

Người đại diện được ủy quyền lại: Bà Vũ Thị Y

Chức vụ: Nhân viên khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP Đ, chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đông Hưng.

(Quyết định ủy quyền số 01/QĐ-DAB-DHG1 ngày 14/3/2019)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1969

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1966.

 Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

(Tại phiên tòa vắng mặt bà Y, bà D, ông Đ )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện nguyên đơn trình bày: Theo giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ của bà Phạm Thị D, ngày 08/6/216 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đông Hưng đã duyệt cho bà Phạm Thị D vay số tiền 20.000.000đồng, lãi suất 9%/năm, thời hạn vay 12 tháng, chia làm 12 kỳ, mỗi kỳ là 1 tháng kể từ ngày 08/6/2016 đến ngày 08/6/2017, mục đích vay chăn nuôi, hình thức thanh toán: trả cả gốc và lãi hàng tháng theo quy định của Ngân hàng Đ (theo bảng dự tính thu RULE 78); hình thức bảo đảm khoản vay: tín chấp thông qua xác nhận của Chủ tịch Hội phụ nữ và Chủ tịch UBND xã Đ. Ngày 08/6/216 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã thực hiện cho bà D nhận nợ theo hình thức báo có vào tài khoản số 0109563648 của bà Phạm Thị D mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 20.000.000đồng. Quá trình vay, từ ngày 08/6/216 đến ngày 27/3/2017, bà Phạm Thị D đã trả được tổng số tiền gồm: vốn: 12.990.770 đồng; lãi trong hạn: 1.569.230 đồng. Do bà Phạm Thị D vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 28/3/2017, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 14/3/2019 bà D còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc là: 7.009.230 đồng; lãi trong hạn: 230.770 đồng; lãi quá hạn 1.858.790 đồng. Tổng cộng 9.098.790 đồng.

Do sơ xuất nên Ngân hàng đã không kiểm tra kỹ hồ sơ, không kiểm tra giấy tờ tùy thân của người bảo lãnh và cũng không trực tiếp nhìn người bảo lãnh ký vào hồ sơ. Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bà Phạm Thị D phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 14/3/2019 là 9.098.790 đồng, lãi phát sinh từ ngày 15/3/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (11/10/2019) là 544.415 đồng.

Không yêu cầu người bảo lãnh là ông Lê Đình Đ phải trả nợ cho Ngân hàng.

Bà Phạm Thị D là bị đơn, ông Lê Đình Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập. Ủy ban nhân dân xã Đ đã cử cán bộ của địa phương đi cùng Thẩm phán và thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đến nhà bà Phạm Thị D, ông Lê Đình Đ để ghi lời khai của bà D, ông Đ và tống đạt các văn bản của Tòa án nhưng bà D, ông Đ không có ở nhà. Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của bà Lê Thị T là chị gái ông Đ, chị chồng bà D. Bà T khai bà có biết việc bà D vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ nhưng bà D vay bao nhiêu, đã trả bao nhiêu, còn nợ lại bao nhiêu thì bà không biết. Hiện nay bà D, ông Đ đi làm ăn xa, một tháng mới về nhà một lần. Bà D, ông Đ đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập của Tòa án nhưng do công việc bận mải bà D, ông Đ không đến Tòa án làm việc được, bà nhận các văn bản của Tòa án và cam kết sẽ thông báo ngay nội dung các văn bản của Tòa án cho bà D, ông Đ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng với quy định của pháp luật còn đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đương sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị D, ông Lê Đình Đ đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh T, căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Phạm Thị D, ông Lê Đình Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà D, ông Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án bà D không đến Tòa án trình bày, Tòa án đến nhà bà D nhưng không gặp bà D nên Tòa án không ghi được lời khai của bà D. Tại biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ thì Bà Phạm Thị D, sinh năm 1969; có đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. Bà Phạm Thị D có ký vào phần người vay trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ để vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Như vậy xác nhận có việc bà D vay của Ngân hàng TMCP Đ số tiền 20.000.000đồng. Về lãi suất cho vay là 9%/năm, lãi quá hạn là 1,5 lần mức lãi trong hạn tức là 13,5% phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.2] Về chữ ký Đ - Lê Đình Đ trong mục người bảo lãnh trong Giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 20/5/2016. Ủy ban nhân dân xã Đ cũng xác định khi chủ tịch Hội phụ nữ xã và Ủy ban nhân dân xã xác nhận chỉ có chữ ký của người vay tiền tại phần người vay không có chữ ký của người bảo lãnh tại phần người bảo lãnh, đại diện Ngân hàng cũng không đề nghị giám định chữ ký, Ngân hàng Đ đề nghị Tòa án chỉ buộc người vay có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ cho Ngân hàng.

[2.3] Theo quy định tại Phần IV “Phần cam kết của người bảo lãnh” trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 20/5/2016 thì trong trường hợp bà Phạm Thị D không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Đ Bank, ông Đ sẽ trả nợ thay cho người vay cho đến khi hết nợ vay tại Đ Bank. Tuy nhiên do hồ sơ tín dụng lập chưa được chặt chẽ và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ tiền cho Ngân hàng, vì vậy chỉ buộc bà D có trách nhiệm trả nợ cho Đ Bank không buộc ông Đ phải trả cho Đ Banhk.

[3] Về án phí: Bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà D, ông Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 122; Điều 124; Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26; Điều 35; Điều 39; điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Các Điều 7, 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Phạm Thị D trả nợ.

Buộc Bà Phạm Thị D, sinh năm 1969; có đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (trả tại chi nhánh huyện Đ, tỉnh T) số tiền 9.643.205 đồng trong đó tiền gốc là: 7.009.230 đồng; tiền lãi tính đến hết ngày 11/10/2019 là 2.633.975 đồng gồm lãi trong hạn: 230.770 đồng lãi quá hạn 2.403.205 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị D phải chịu 482.000 đồng (làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0008007 ngày 16/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt bà Y, bà D, ông Đ báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


20
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về