Bản án 06/2020/DS-ST ngày 21/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 06/2020/DS-ST NGÀY 21/09/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày21 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số:12/2020/TLST-TCDS ngày 25 tháng5 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐST-TCDS ngày 13 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B; địa chỉ: Tòa nhà C 109 T, quận H, TP Hà Nội:

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C - Ngân hàng TMCP B Người được ủy quyền lại: Ông Trịnh Thái Q – Chuyên viên khách hàng phòng khách hàng thuộc phòng giao dịch Bắc Quảng Trạch - Ngân hàng TMCP B (văn bản ủy quyền số 377/2020/UQ- L ngày 08/5/2020); địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình

2. Bị đơn:Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08/5/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B trình bày:Ngày 20/9/2017bà Phạm Thị H đã vay tại Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Quảng Bình, Phòng giao dịch B số tiền 50.000.000 đồng, mục đích để mua sắm nội thất gia đình; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất cho vay trong hạn là 8%/ năm tính trên tổng dư nợ gốc ban đầu, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ chậm trả do hai bên thoả thuận bằng 10%/năm.

Quá trình vay vốn bà Phạm Thị H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc 20.850.000 đồng và tiền lãi hàng tháng. Đến ngày 15/01/2019 do bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng nên phía Ngân hàng đã chuyển thành khoản nợ quá hạn.

Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà vẫn thường xuyên vi phạm cam kết.

Để thu hồi vốn, đại diện cho Ngân hàng TMCP B đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền 40.078.612 đồng, trong đó nợ gốc 29.150.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/9/2020) là 10.928.612 đồngvà phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà H là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch không có kiến nghị đối với vụ án này.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thị H phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP B số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (21/9/2020) tổng cộng số tiền là 40.078.612 đồng, trong đó nợ gốc 29.150.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/9/2020) là 10.928.612 đồng; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn bà Phạm Thị H có nơi cư trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng bà Phạm Thị H vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặtbị đơn bà Phạm Thị H.

[2]Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:

Theo yêu cầu kh ởi ki ện, lời t rình b ày c ủa các đ ương s ự và tài l i ệu, ch ứng c ứ trong h ồ sơ vụ án, x ác đ ịnh: Giữa Ngân hàng TMCP B với bà Phạm Thị H đã giao kết Hợp đồng vay tài sản vào ngày 20/9/2017,bà H đã vay tại Ngân hàng TMCP B– Chi nhánh Quảng Bình, Phòng giao dịch B số tiền 50.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số HDTD4532017141. Trên cơ sở Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho bà H vay như thỏa thuận. Như vậy, Hợp đồng vay tài sản giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành.

Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay bà Phạm Thị H chỉ mới thanh toán được một khoản tiền gốc và lãi cho Ngân hàng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn và quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 463, 466, 468của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B,buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ 40.078.612 đồng, trong đó nợ gốc 29.150.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/9/2020) là 10.928.612 đồng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy bà Phạm Thị H phải chịu toàn bộ án phí vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm akhoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010:

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Xét xử vắng mặt bị đơn bà Phạm Thị H.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Phạm Thị H.

Buộc bà Phạm Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền 40.078.612 đồng, trong đó nợ gốc 29.150.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/9/2020) là 10.928.612 đồng.

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/9/2020), bà Phạm Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”

2. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 2.003.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí 919.733 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vào ngày 21/5/2020 theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007365 ngày 21/5/2020.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/9/2020). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2020/DS-ST ngày 21/09/2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:06/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Trạch - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về