
Khoản 1 Điều 42 Nghị định 253/2026 quy định miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghệ cao trong các trường hợp sau:
a) Thu nhập từ thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao;
b) Thu nhập từ hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
Khoản 2 Điều 42 Nghị định 253/2026 quy định việc xác định nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao. Một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Việc xác định nhân lực công nghệ cao theo quy định tại khoản 1 Điều này làm căn cứ thực hiện miễn thuế được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Luật Công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn thi hành;
b) Việc xác định hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được thực hiện theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật Công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn thi hành.
"Điều 11. Nghiên cứu và phát triển công nghệ cao _ Luật Công nghệ cao
1. Nhà nước thúc đẩy, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp để tạo nền tảng khoa học, công nghệ cho phát triển công nghệ cao.
2. Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển quy định tại Điều 5 của Luật này bao gồm:
a) Nghiên cứu sáng tạo công nghệ cao, công nghệ lõi;
b) Nghiên cứu giải mã, làm chủ và cải tiến công nghệ cao;
c) Nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ cao.
3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động quy định tại khoản 2 Điều này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:
a) Ưu tiên xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao và từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
c) Được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao;
d) Hỗ trợ bảo hộ, khai thác, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ cao;
đ) Được hỗ trợ kinh phí đầu tư, vận hành hoặc thuê sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
e) Việc xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với chi phí tài trợ, chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
4. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân thành lập, đầu tư vào trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao là đối tượng được hưởng ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế, đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan nếu đáp ứng tiêu chí về trung tâm nghiên cứu và phát triển theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các tiêu chí sau đây:
a) Công nghệ, sản phẩm được nghiên cứu và phát triển tại trung tâm thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Luật này;
b) Các tiêu chí về nhân lực trình độ cao; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động;
c) Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
6. Việc công nhận trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao quy định tại khoản 5 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 12. Nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược
1. Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 của Luật này bao gồm:
a) Nghiên cứu giải mã, làm chủ, cải tiến và hoàn thiện công nghệ chiến lược;
b) Nghiên cứu ứng dụng và thử nghiệm công nghệ chiến lược.
2. Tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại khoản 3 Điều 11 của Luật này và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ sau đây:
a) Được xét giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, từ các quỹ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Được hưởng cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ quy định tại Điều 31 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân thành lập, đầu tư vào trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược là đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách khác theo quy định của pháp luật có liên quan nếu đáp ứng tiêu chí về trung tâm nghiên cứu và phát triển theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các tiêu chí sau đây:
a) Công nghệ, sản phẩm được nghiên cứu và phát triển tại trung tâm thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Luật này;
b) Các tiêu chí về nhân lực trình độ cao; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển; cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động;
c) Tuân thủ các quy định về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
5. Việc công nhận trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược quy định tại khoản 4 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 13. Thu hút và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao
1. Nhân lực công nghệ cao bao gồm:
a) Người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ năng cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển, làm chủ, chuyển giao hoặc thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược;
b) Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học có kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
2. Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động đào tạo, thu hút và phát triển nhân lực công nghệ cao phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược."
26,970