- Tài sản mà bên thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City đã bỏ quên thì bên cho thuê có thể giữ luôn không?
- Giữ tài sản mà bên thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City đã bỏ quên để làm của riêng thì sẽ bị phạt như thế nào?
- Sau 1 năm thông báo mà người thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City không nhận lại tài sản, bên cho thuê có được sở hữu tài sản đó không?
Tài sản mà bên thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City đã bỏ quên thì bên cho thuê có thể giữ luôn không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên, cụ thể:
Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên
1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
[...]
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu người thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City bỏ quên tài sản, bên cho thuê không được tự ý giữ làm của riêng mà phải thông báo, trả lại cho người thuê nếu biết địa chỉ liên hệ.
Trường hợp không xác định được địa chỉ, tài sản phải được giao nộp cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để xử lý theo quy định.
Chỉ khi hết thời hạn thông báo mà không có ai đến nhận, quyền sở hữu đối với tài sản đó mới có thể được xác lập theo luật.

Tài sản mà bên thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City đã bỏ quên thì bên cho thuê có thể giữ luôn không? (Hình từ Internet)
Giữ tài sản mà bên thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City đã bỏ quên để làm của riêng thì sẽ bị phạt như thế nào?
Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác, cụ thể:
Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác
1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản;
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
d) Không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản;
đ) Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
[...]
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 và các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều này;
b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều này;
b) Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm đ và e khoản 2 Điều này;
c) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.
Đồng thời, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền tối đa, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:
Điều 4. Quy định về mức phạt tiền tối đa, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính
[...]
2. Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
[...]
Do đó, theo quy định, nếu chủ căn hộ chung cư MT Eastmark City tự ý giữ tài sản mà người thuê bỏ quên để làm của riêng thì có thể bị coi là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, đồng thời tài sản vi phạm có thể bị tịch thu và buộc trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Sau 1 năm thông báo mà người thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City không nhận lại tài sản, bên cho thuê có được sở hữu tài sản đó không?
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên, cụ thể:
Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên
[...]
2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Do vậy, theo quy định, nếu sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà người thuê căn hộ chung cư MT Eastmark City không đến nhận lại tài sản, thì việc xác lập quyền sở hữu được xử lý như sau:
Trường hợp tài sản có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, bên cho thuê được xác lập quyền sở hữu đối với toàn bộ tài sản đó.
Trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn 10 lần mức lương cơ sở, sau khi trừ chi phí bảo quản, bên cho thuê được hưởng giá trị bằng 10 lần mức lương cơ sở và 50% giá trị của phần vượt quá, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];