Hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội dưới dạng ủy quyền nhận trợ cấp thực chất là trục lợi chính sách và vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội là hành vi gian dối, gian lận nhằm hưởng chế độ BHXH không đúng quy định.
Theo đó hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 với tội danh gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP, nêu rõ cụ thể về Gian lận bảo hiểm xã hội (BHXH) như sau:
Gian lận BHXH, BHTN là việc thực hiện một trong các hành vi sau nhằm chiếm đoạt tiền hoặc gây thiệt hại, gồm:
+ Lập hồ sơ BHXH, hồ sơ BHTN giả để lừa dối cơ quan BHXH (sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để thanh toán các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động,…);
+ Làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, BHTN lừa dối cơ quan BHXH;
+ Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan BHXH hưởng các chế độ BHXH, BHTN.

Hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? (Hình từ Internet)
Các khung hình phạt cho việc gian lận bảo hiểm xã hội?
Theo Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người nào thực hiện hành vi gian lận BHXH, BHTN nhằm chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 10 - dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 - dưới 200 triệu đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận BHXH, BHTN.
Hành vi gian lận | Mức độ | Mức phạt phạt |
Tội gian lận BHXH, BHTN | Thực hiện một trong các hành vi sau đây nhằm chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 10 - dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 - dưới 200 triệu đồng: - Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, BHTN. - Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan BHXH để hưởng các chế độ BHXH, BHTN | Phạt tiền từ 20 – 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng - 02 năm |
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: - Có tổ chức; - Có tính chất chuyên nghiệp; - Chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 100 - dưới 500 triệu đồng; - Gây thiệt hại từ 200 - dưới 500 triệu đồng; - Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; - Tái phạm nguy hiểm. | - Phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng; hoặc Phạt tù từ 01 - 05 năm | |
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: - Chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 500 triệu đồng trở lên; - Gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên. | Phạt tù từ 05 - 10 năm |
Ngoài ra , người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Các nguyên tắc trong Bảo hiểm xã hội?
Căn cứ theo Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 các nguyên tắc bảo hiểm xã hội được nêu rõ như sau:
[1] Mức hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội; có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
[2] Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện do người tham gia lựa chọn.
[3] Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
[4] Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
[5] Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
[6] Thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để xác định điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng tính theo năm, một năm phải tính đủ 12 tháng. Trường hợp tính mức hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
[7] Việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];