Thời gian thực tập có được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên không? Thời gian không đi làm nhưng được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên?
>> Cách tính mức lương cơ bản trong doanh nghiệp nhà nước theo thông tư 003?
>> Hạn nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động 06 tháng đầu năm 2025?
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư 08/2013/TT-BNV (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Thông tư 03/2021/TT-BNV), quy định thời gian không được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên như sau:
Điều 2. Chế độ nâng bậc lương thường xuyên
1. Điều kiện thời gian giữ bậc trong ngạch hoặc trong chức danh:
…
c) Thời gian không được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên, gồm:
- Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương;
- Thời gian đi làm chuyên gia, đi học, thực tập, công tác, khảo sát ở trong nước và ở nước ngoài vượt quá thời hạn do cơ quan có thẩm quyền quyết định;
- Thời gian bị đình chỉ công tác, bị tạm giữ, tạm giam và các loại thời gian không làm việc khác ngoài quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này.
Tổng các loại thời gian không được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên quy định tại Điểm này (nếu có) được tính tròn tháng, nếu có thời gian lẻ không tròn tháng thì được tính như sau: Dưới 11 ngày làm việc (không bao gồm các ngày nghỉ hằng tuần và ngày nghỉ làm việc được hưởng nguyên lương theo quy định của pháp luật về lao động) thì không tính; từ 11 ngày làm việc trở lên tính bằng 01 tháng.
- Thời gian tập sự (bao gồm cả trường hợp được hưởng 100% mức lương của ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức tập sự).
- Thời gian cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đào ngũ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.
- Thời gian thử thách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo; trường hợp thời gian thử thách ít hơn thời gian bị kéo dài nâng bậc lương thường xuyên tính theo thời gian bị kéo dài nâng bậc lương thường xuyên.
- Thời gian nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định hiện hành của pháp luật
Như vậy, thời gian đi thực tập có được xét để nâng bậc lương thường xuyên còn tùy vào trường hợp. Nếu đi thực tập đúng thời gian đã được phê duyệt, thì thời gian đó vẫn được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên. Còn thời gian đi thực tập mà vượt quá thời hạn được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì không được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên.
![]() |
File Word Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn mới nhất [cập nhật ngày 21/10/2024] |

Thời gian thực tập có được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Theo điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư 08/2013/TT-BNV (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư 03/2021/TT-BNV), những thời gian sau đây sẽ được tính để xét nâng bậc lương thường xuyên dù không đi làm:
(i) Nghỉ làm việc được hưởng nguyên lương.
(i) Nghỉ hưởng chế độ thai sản.
(iii) Nghỉ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hưởng bảo hiểm xã hội cộng dồn từ 6 tháng trở xuống (trong thời gian giữ bậc).
(iv) Thời gian được cử đi làm chuyên gia, đi học, thực tập, công tác, khảo sát ở trong nước, ở nước ngoài (bao gồm cả thời gian đi theo chế độ phu nhân, phu quân theo quy định của Chính phủ) nhưng vẫn trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.
(v) Thời gian cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tham gia phục vụ tại ngũ.
Theo Điều 9 Luật Cán bộ, công chức 2008, quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ như sau:
1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.


