Nghị định 123 về hóa đơn, chứng từ còn hiệu lực không? Chuyển đổi hóa đơn, chứng từ điện tử thành bản giấy khi nào? Những trường hợp không bị xử phạt khi vi phạm về thuế, hóa đơn?
1. Nghị định 123 về hóa đơn, chứng từ còn hiệu lực không?
Ngày 20/3/2025, Chính Phủ ban hành Nghị định 70/2025/NĐ-CP để sửa đổi một số nội dung của Nghị định 123/2020/NĐ-CP, khiến nhiều người băn khoăn rằng “Nghị định 123 về hóa đơn, chứng từ còn hiệu lực không?”
Hiện tại, Nghị định 123/2020/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực, chỉ có một số điều, khoản trong Nghị định này đã bị Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung. Do đó, khi áp dụng pháp luật, cần đối chiếu đồng thời cả hai văn bản để đảm bảo tuân thủ đúng quy định hiện hành.
Qúy khách hàng có thể xem chi tiết những điểm mới của Nghị định 70/2025/NĐ-CP tại Công văn 348/CT-CS.
 |
File Excel so sánh Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Nghị định 123/2020/NĐ-CP |

Nghị định 123 về hóa đơn, chứng từ (Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
2. Chuyển đổi hóa đơn, chứng từ điện tử thành bản giấy khi nào?
Căn cứ Điều 7 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, việc chuyển đổi hóa đơn, chứng từ điện tử thành bản giấy được thực hiện khi có yêu cầu nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, cơ quan kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, điều tra và theo quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra và điều tra.
Lưu ý: Khi chuyển đổi thì cá nhân, tổ chức phải bảo đảm sự khớp đúng giữa bản điện tử và bản giấy sau khi chuyển đổi. Bản giấy sau khi chuyển đổi chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi chứ không thể dùng để giao dịch, thanh toán, trừ trường hợp là hóa đơn được khởi tại từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.
3. Những trường hợp nào sẽ không bị xử phạt khi vi phạm về thuế, hóa đơn?
Căn cứ Điều 9 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, những trường hợp người vi phạm sẽ không bị xử phạt khi vi phạm về thuế, hóa đơn được quy định như sau:
Điều 9. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn - Nghị định 125/2020/NĐ-CP
1. Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đối với các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Người nộp thuế chậm thực hiện thủ tục thuế, hóa đơn bằng phương thức điện tử do sự cố kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế thuộc trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
2. Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với người nộp thuế vi phạm hành chính về thuế do thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (kể cả các văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý được ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực), trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chưa phát hiện sai sót của người nộp thuế trong việc khai, xác định số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng sau đó hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế bị phát hiện.
3. Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.
4. Không xử phạt hành vi vi phạm thủ tục thuế đối với cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã bị ấn định thuế theo quy định tại Điều 51 Luật Quản lý thuế.
5. Không xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian người nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế đó.
|