Vì sao quy định HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 7,354 lượt xem
10:00 | 27/07/2026
Vì sao quy định "HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến" không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?
Nội dung chính
  1. Vì sao quy định "HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến" không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?
  2. Thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng?
  3. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trái quy định bị phạt bao nhiêu tiền?

Vì sao quy định "HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến" không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?

Một trong những nội dung đang gây nhiều tranh luận hiện nay là quy định cuối khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP về việc người lao động ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần. Vậy vì sao quy định này lại không áp dụng đối với tiền lương được trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?

Dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về việc khấu trừ thuế như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Tuy nhiên, tại quy định cuối khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP: "Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần...", có ý kiến cho rằng chỉ cần người lao động trước đây ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên (bao gồm cả hợp đồng lao động không xác định thời hạn) thì tiền lương được trả sau khi nghỉ việc vẫn phải khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Vậy cách hiểu này có đúng không?

Để trả lời câu hỏi trên, cần đặt toàn bộ khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP trong mối quan hệ thống nhất thay vì chỉ đọc riêng câu cuối của điều luật.

Mặc dù cuối khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, nhưng quy định này không thể tách rời khỏi toàn bộ khoản 2 để hiểu một cách độc lập.

Ngay phần đầu của khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã bổ sung riêng trường hợp "trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động" vào nhóm đối tượng áp dụng khấu trừ 10%.

Điều này cho thấy pháp luật về thuế đã chủ động tách riêng trường hợp trả tiền lương sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động thành một trường hợp độc lập để áp dụng cơ chế khấu trừ thuế riêng. Nói cách khác, đây là quy định đặc thù được bổ sung nhằm điều chỉnh riêng đối với khoản thu nhập được chi trả sau khi quan hệ lao động đã kết thúc.

Nói cách khác, quy định "ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần" chỉ điều chỉnh các khoản thu nhập được chi trả khi quan hệ lao động vẫn đang tồn tại. Đối với khoản tiền lương được trả sau thời điểm hợp đồng lao động đã chấm dứt thì pháp luật đã có quy định riêng ngay tại phần đầu khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nên phải ưu tiên áp dụng quy định này.

Vì vậy, người lao động trước đây ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên hay HĐLĐ không xác định thời hạn không còn là căn cứ để tiếp tục áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần.

Do đó, quy định cuối khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP không phải là căn cứ để tiếp tục áp dụng biểu thuế lũy tiến đối với khoản tiền lương được trả sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động. Khi thời điểm chi trả phát sinh sau khi quan hệ lao động đã kết thúc thì trường hợp này đã được điều chỉnh bởi quy định riêng tại chính khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP và phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu đáp ứng điều kiện về mức chi trả.

Nếu câu cuối khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP được hiểu là áp dụng cho cả người đã nghỉ việc thì cụm từ "bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động" được bổ sung ở đầu khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP gần như không còn giá trị điều chỉnh trên thực tế đối với nhóm người lao động ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên.

LƯU Ý:

Cách hiểu này cũng hoàn toàn phù hợp với hướng dẫn của Cục Thuế từ thời điểm còn áp dụng Thông tư 111/2013/TT-BTC. Khi được hỏi về trường hợp người lao động ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên nhưng tiền lương được chi trả sau khi nghỉ việc, Cục Thuế đã xác định doanh nghiệp phải khấu trừ 10%.

Có thể thấy, tiêu chí quyết định trong trường hợp này không còn là loại hợp đồng lao động mà người lao động đã ký trước đây, mà là thời điểm doanh nghiệp thực tế chi trả khoản thu nhập. Khi việc chi trả lương phát sinh sau thời điểm quan hệ lao động đã chấm dứt thì khoản thu nhập đó thuộc trường hợp được điều chỉnh riêng và thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu trên 05 triệu.

Vì sao quy định HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc?

Vì sao quy định HĐLĐ từ 03 tháng trở lên áp dụng biểu lũy tiến không áp dụng đối với tiền lương trả sau khi người lao động đã nghỉ việc? (Hình từ Internet)

Thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng?

Căn cứ vào Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP có quy định về thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN từ 01/07/2026 như sau:

Thời điểm lập chứng từ
1. Tại thời điểm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, thời điểm thu thuế, phí, lệ phí, tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí, phải lập chứng từ, biên lai giao cho người nộp thuế, phí, lệ phí trừ các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.
2. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
3. Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập lập chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc lập một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một năm tính thuế khi cá nhân yêu cầu. Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ lập một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.
4. Đối với thu nhập của nhà đầu tư cá nhân phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản mã hóa, chuyển nhượng vàng miếng, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng trong trường hợp khoản thu nhập này đã được tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ, nộp thuế thu nhập cá nhân tại nguồn thì tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
5. Thời điểm ký số trên chứng từ là thời điểm tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí điện tử sử dụng chữ ký số để ký trên chứng từ điện tử được hiển thị theo định dạng ngày, tháng, năm của năm dương lịch.

Theo quy định trên, thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ý hợp đồng lao động trên 3 tháng là lập một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.

Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trái quy định bị phạt bao nhiêu tiền?

Căn cứ theo Điều 29 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động chỉ được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động khi thực hiện đầy đủ các quy định như sau:

- Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm;

Trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.

Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.

- Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.

- Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

- Người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Lao động 2019.

Theo đó, căn cứ tại điểm c khoản 2 Điều 17 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định việc người sử dụng lao động có hành vi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trái với quy định có mức xử phạt áp dụng từ ngày 10/9/2026 như sau:

Vi phạm quy định về thực hiện hợp đồng lao động
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không báo cho người lao động trước 03 ngày làm việc hoặc không thông báo hoặc thông báo không rõ thời hạn làm tạm thời hoặc bố trí công việc không phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.
...

Tuy nhiên, các mức phạt trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Như vậy, từ các quy định trên, trường hợp người sử dụng lao động chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động không đúng lý do, vượt thời hạn luật cho phép hoặc không có văn bản đồng ý của người lao động theo quy định thì bị phạt tiền:

- Từ 3 - 7 triệu đồng đối với cá nhân;

- Từ 6 - 14 triệu đồng đối với tổ chức.

Ngoài việc bị xử phạt, người sử dụng lao động còn phải bố trí người lao động trở lại làm công việc đúng với hợp đồng lao động đã giao kết.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất