TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
BẢN ÁN 20/2024/HNGĐ-ST NGÀY 05/09/2024 VỀ XIN LY HÔN
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02/7/2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lèo Văn K, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn ngày 25/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lèo Văn K trình bày:
Về hôn nhân: Anh K và bị đơn chị Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên vào năm 2008. Vợ chồng sống hòa thuận đến đầu năm 2024 anh K đi làm ăn xa và có quan hệ với người đàn bà khác nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nay thấy không còn xứng đáng với vợ nên anh K yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung: Lèo Nguyễn Hoài T, sinh ngày 10/7/2009 và Lèo Nguyễn Nam T1 sinh ngày 27/10/2017, con muốn ở với ai người đó nuôi, nếu anh K nuôi thì không yêu cầu chị N cấp dưỡng, nếu chị N nuôi con thì anh cấp dưỡng 500.000 đồng/con/tháng. Không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn, các con chung đúng như anh K trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhỏ nhưng đều bỏ qua để chung sống. Tuy nhiên từ năm 2023 chị N bị bệnh ung thư thì anh K ngoại tình với người đàn bà khác, công khai dẫn nhau đi chơi, chụp ảnh đăng lên mạng xã hội, từ đó cũng không còn gửi tiền cho chị chữa bệnh, nuôi con làm chị càng bị sa sụp tinh thần. Chị N đang còn phải điều trị bệnh, hơn nữa nếu ly hôn mẹ con chị sẽ không còn chỗ ở vì nhà của vợ chồng làm trên đất của cha mẹ chồng (nhưng chưa làm giấy tờ cho), chưa ly hôn mà ông bà và anh K đã đòi dỡ nhà đuổi mẹ con chị ra đường, vì vậy chị không đồng ý ly hôn.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu ly hôn, con chung, tài sản chung; bị đơn không đồng ý ly hôn.
Đại diện VKSND huyện Sông Hinh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu ly hôn, phân chia trách nhiệm nuôi con của nguyên đơn.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Lèo Văn K khởi kiện xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Thị N, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên nên theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên nên được xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, anh K vẫn giữ nguyên nguyện vọng được ly hôn với chị N, chị N không đồng ý ly hôn. Xét nguyên nhân anh K xin ly hôn là do đã có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, ngoài ra anh K không chứng minh được mâu thuẫn trầm trọng nào khác giữa vợ chồng, phù hợp với việc Hội liên hiệp phụ nữ xã E cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh K và chị N là trong quá trình chung sống không có phát sinh mâu thuẫn gì, chỉ từ khi anh K vào S thì có quan hệ với người phụ nữ khác nên mới phát sinh mâu thuẫn. Việc anh K có quan hệ với người phụ nữ khác trong lúc vợ đang bị bệnh hiểm nghèo là đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, chị N không đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh K như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh.
[3] Về con chung: Việc anh K xin ly hôn không được chấp nhận nên không xem xét giải quyết về trách nhiệm nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001852 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82, Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lèo Văn K về việc ly hôn chị Nguyễn Thị N, giải quyết về con chung.
3. Về án phí: Nguyên đơn anh Lèo Văn K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001852 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.
Anh K đã thi hành xong phần án phí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về xin ly hôn số 20/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 20/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Sông Hinh - Phú Yên |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 05/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về